Thời sự

Số vàng bằng 8% GDP ở trong dân : Cách nào để huy động?

Lam Thanh 18/11/2025 17:03

Liệu Việt Nam có thể huy động số vàng hàng trăm tấn trong dân vào nền kinh tế ? TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, "có thể, nhưng cần thời gian, không thể vội vã".

Tại Tọa đàm “Sàn giao dịch vàng: Minh bạch thị trường và ổn định kinh tế vĩ mô” do báo Tiền Phong tổ chức, chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho hay trên thế giới, giá vàng đang biến động mạnh do các yếu tố bất định về kinh tế vĩ mô.

“Giá vàng quốc tế đã vượt 4.000 USD/ounce và theo đánh giá của tôi hoàn toàn có thể quay trở lại vùng 4.200 USD/ounce vào cuối năm. Việt Nam dù không liên thông hoàn toàn với giá vàng quốc tế vẫn chịu tác động rất mạnh, dẫn đến các biến động bất thường trong nước”, ông Hiếu nói.

Theo ông Hiếu, trong gần 1 năm qua, giá vàng thế giới tăng khoảng 56%, trong khi vàng trong nước tăng tới 80%. Do đó, không khó hiểu khi người dân chuyển từ bất động sản, chứng khoán hay gửi tiết kiệm sang vàng, bởi bất động sản cần vốn lớn, chứng khoán đòi hỏi kiến thức và rủi ro, lãi suất gửi ngân hàng khó cạnh tranh với mức sinh lời của vàng thời gian qua.

“Chúng ta phải ghi nhận nhu cầu tích lũy và đầu tư vàng của người dân là chính đáng”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Ảnh màn hình 2025-11-18 lúc 16.46.20
Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Ảnh: BTC

Theo vị chuyên gia, vàng tại Việt Nam không chỉ là tài sản đầu cơ mà còn đóng vai trò tích lũy, bảo hiểm tài chính.

"Nhiều gia đình không có bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm y tế, nên vàng trở thành “của để dành”, được sử dụng khi gặp biến cố. Tính thanh khoản cao, dễ mua bán, chia nhỏ, giữ kín khiến vàng trở thành lựa chọn quen thuộc và sâu gắn với tập tính tài chính của người dân Việt Nam", ông Hiếu nói.

Tuy nhiên, ông Hiếu nhìn nhận, việc trữ vàng vật chất tại nhà là một sự lãng phí lớn đối với nền kinh tế. Ước tính lượng vàng cất giữ trong dân tương đương 8% GDP, nhưng không được đưa vào sản xuất - kinh doanh.

“Hiện Việt Nam đang nắm giữ một lượng vàng rất lớn trong dân, ước tính hàng trăm tấn. Nhưng việc huy động lượng vàng này không thể thực hiện trong ngắn hạn mà cần một quá trình dài hơi, thận trọng và có niềm tin thị trường”, ông Hiếu nói.

Về lâu dài, ông Hiếu cho rằng phải hướng tới mô hình chứng khoán hóa vàng, người dân nắm giữ tài sản vàng dưới dạng chứng chỉ có giá trị tương đương vàng vật chất. Nhưng để điều đó xảy ra, điều quan trọng nhất là niềm tin và người dân phải tin rằng chứng chỉ đó an toàn tuyệt đối và có giá trị thực.

Với Nghị định 232 và định hướng xây dựng hệ sinh thái sản phẩm vàng an toàn - minh bạch - cạnh tranh, ông Hiếu cho rằng Việt Nam có thể từng bước làm được ba việc bảo đảm phân phối vàng vật chất minh bạch; chống đầu cơ, buôn lậu; từng bước triển khai các sản phẩm vàng đầu tư theo chuẩn mực quốc tế, tiến tới chứng khoán hóa vàng, tạo nguồn lực vàng phục vụ nền kinh tế.

“Về câu hỏi quan trọng nhất: Liệu Việt Nam có thể huy động được 300-500 tấn vàng trong dân vào nền kinh tế không? Câu trả lời của tôi là: Có thể. Nhưng cần thời gian, không thể vội vã”, ông Hiếu nói.

Theo TS Hiếu, nếu Việt Nam xây dựng được niềm tin thị trường, giảm độc quyền, mở rộng quyền tham gia của doanh nghiệp và ngân hàng, bảo đảm lưu thông vàng minh bạch, cung cấp các sản phẩm đầu tư vàng an toàn thì dòng vàng trong dân sẽ dần đi vào hệ thống một cách tự nhiên và tự nguyện.

TS Cấn Văn Lực, Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng cho hay vấn đề quan trọng nhất hiện nay là xác định rõ phạm vi vàng cần quản lý.

Ảnh màn hình 2025-11-18 lúc 16.46.30
TS Cấn Văn Lực, Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng - Ảnh: BTC

Theo ông Lực, vàng miếng, vàng thỏi - vốn mang tính đầu tư, dự trữ và liên quan trực tiếp đến ổn định tài chính - phải tiếp tục được quản lý chặt. Trong khi đó, vàng trang sức hay vàng thủ công mỹ nghệ mang tính tiêu dùng và hàm lượng giá trị gia công cao. Do đó, cần cân nhắc mức độ quản lý phù hợp, tránh áp đặt cơ chế như đối với vàng miếng, gây tốn kém và không cần thiết.

Song song đó, Việt Nam cũng cần nhìn nhận lại mức độ “vàng hoá” của nền kinh tế. Xác định mức độ tích trữ vàng trong dân, công khai minh bạch dữ liệu và kiên định chấm dứt hoàn toàn quan hệ vay - mượn bằng vàng để giảm rủi ro hệ thống.

Về chênh lệch giá vàng trong nước - quốc tế, ông Lực cho hay yếu tố cấp bách là tăng cung hợp pháp. Điều này gồm giảm chi phí chế tác, chuẩn hóa quy cách vàng miếng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong nhập khẩu và sản xuất để nguồn cung không còn khan hiếm.

“Khi việc tiếp cận vàng trở nên quá khó, tâm lý tò mò và đổ xô mua càng tăng, đẩy thị trường vào bất ổn. Do đó, cần minh bạch hoá thị trường và song song tạo ra các kênh đầu tư hấp dẫn khác để người dân chuyển hướng dòng tiền sang sản xuất - kinh doanh thay vì đầu cơ vàng”, ông Lực nói.

Lam Thanh