Thời sự

Bùng nổ công nghệ số, AI, công nghệ gien... trong chẩn đoán và điều trị bệnh

Lam Thanh 03/12/2025 15:30

Song hành với thách thức là những cơ hội chưa từng có từ sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ gien và vật liệu sinh học trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

Cơ hội lớn từ ứng dụng công nghệ trong điều trị bệnh

Tại Tọa đàm khoa học vì cuộc sống trong khuôn khổ tuần lễ Trao giải thưởng VinFuture 2025, TS Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế) cho hay năm 2025 đánh dấu thời điểm đầy biến động của y tế toàn cầu.

Theo đó, nhân loại tiếp tục đối mặt với những gánh nặng sức khỏe toàn cầu ngày càng gia tăng và phức tạp. Trong đó tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm như ung thư, tiểu đường, tim mạch tiếp tục gia tăng mạnh tại nhiều khu vực.

“Các bệnh truyền nhiễm mới nổi gây áp lực lên hệ thống y tế, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh. Tình trạng kháng kháng sinh đang tiến dần đến mức báo động, đe doạ đảo ngược nhiều thành tựu y học trong nhiều thế kỷ vừa qua”, ông Quang nói.

ra_00527.jpg
TS Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế)

Đại diện Bộ Y tế cho rằng sự chênh lệch về tiếp cận dịch vụ y tế giữa các quốc gia và nhóm dân cư ngày càng rõ rệt, tạo ra các yêu cầu cấp thiết về đổi mới sáng tạo để tạo ra các giải pháp y tế chính xác hiệu quả và bền vững hơn.

Tuy nhiên, theo ông Quang, song hành với những thách thức là những cơ hội chưa từng có từ sự bùng nổ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ gien và vật liệu sinh học trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

Theo đó, từ những liệu pháp thực khuẩn thể để đối phó với kháng thuốc, đến ứng dụng công nghệ in 3D trong phẫu thuật, các đột phá mới trong thính giác hay các xu hướng công nghệ vi sinh tiên tiến... Tất cả đều là những nghiên cứu trọng điểm nằm trong chiến lược về công nghệ mà ngành y tế Việt Nam đã và đang ưu tiên tiếp cận và ứng dụng.

GS Quarraisha Abdool Karim, Trung tâm Nghiên cứu Chương trình AIDS (Nam Phi), Đại học Columbia (Hoa Kỳ) cũng nhìn nhận rằng khoa học hiện nay cần đối mặt nhiều vấn đề về biến đổi khí hậu, dịch tễ học, bệnh lý mới, chiến tranh, COVID-19... nhắc nhở cho con người về sự thay đổi quần thể, đây là vấn đề toàn cầu.

“Thử thách về y tế nằm trong khuôn khổ mạng xã hội khi thông tin rộng rãi nhưng độ chính xác không cao, chính trị hóa khoa học là thử thách. Chúng ta cần thu nhận kiến thức, cần khoa học để hợp tác phát triển, vượt qua tính cá nhân hóa để hướng tới tương lai”, bà Karim nêu.

GS quarai
GS Quarraisha Abdool Karim, Trung tâm Nghiên cứu Chương trình AIDS (Nam Phi), Đại học Columbia (Hoa Kỳ)

Những công nghệ y sinh đột phá

Tại sự kiện, các nhà khoa học hàng đầu thế giới đã giới thiệu nhiều nghiên cứu đột phá đang góp phần thay đổi cách nhân loại phát hiện và điều trị bệnh. Ví dụ như liệu pháp thực khuẩn thể chống kháng thuốc, các nghiên cứu tiên phong về vi sinh học tế bào, công nghệ in 3D trong phẫu thuật, hay những tiến bộ trong điều trị mất thính lực…

GS Ana Belén Elgoyhen, Đại học Buenos Aires, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật quốc gia (Argentina) mang đến tọa đàm về chiến lược điều trị mới cho mất thính lực.

ra_00714.jpg
GS Ana Belén Elgoyhen, Đại học Buenos Aires, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia (Argentina)

Bà cho hay theo WHO, mất thính lực là là căn bệnh phổ biến nhất thế giới với ước tính hơn 1,5 tỉ người đang sống chung với một mức độ mất thính lực nào đó. Con số này được dự báo sẽ tăng lên đáng kể, với ước tính khoảng 2,5 tỉ người sẽ bị ảnh hưởng bởi một mức độ mất thính lực nào đó vào năm 2050.

Nếu không có biện pháp can thiệp hiệu quả, chi phí hàng năm do mất thính lực trên toàn cầu ước tính lên tới hơn 980 tỉ USD. Gánh nặng này đặc biệt nặng nề ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.

Theo bà, liệu pháp Gen (OTOF) có thể là hướng điều trị mới đối với mất thính lực. Theo đó, liệu pháp này mã hóa một loại protein gọi là Otoferlin. Protein Otoferlin đóng vai trò thiết yếu trong quá trình truyền thông tin từ tai trong đến dây thần kinh thính giác, và sau đó truyền tín hiệu điện lên não. Khi gien OTOF bị đột biến, quá trình truyền tín hiệu này bị gián đoạn hoàn toàn, dẫn đến điếc bẩm sinh.

“Các nhà khoa học sử dụng các virus đã được biến đổi gien làm vector (phân phối) một bản sao khỏe mạnh của gien (OTOF), giúp bệnh nhân nghe được”, GS Ana Belén Elgoyhen nói.

GS Chuanbin Mao Đại học Trung văn Hồng Kông (Trung Quốc) trình bày chủ đề “Virus chống ung thư: Triển vọng đột phá của liệu pháp thực khuẩn thể”.

Ông cho hay thực khuẩn thể (phage) tấn công và tiêu diệt vi khuẩn. Cấu tạo cơ bản của chúng là hệ thống siêu phân tử tạo từ axit nucleic, DNA hoặc RNA.

“Công nghệ hiện đại cho phép chúng ta thay đổi, điều chỉnh gen mã hóa protein hoặc peptide bên ngoài thành (vỏ) của phage. Đây là nền tảng cho việc biến phage thành "phương tiện vận chuyển thông minh" nhắm mục tiêu cụ thể”, GS Chuanbin Mao nói.

ra_00889.jpg
GS Chuanbin Mao Đại học Trung văn Hồng Kông (Trung Quốc)

Theo đó, khi khối u phát triển, một số tế bào ung thư (CTC) tách ra và di chuyển vào máu - chỉ báo quan trọng cho ung thư hoặc di căn, phage có thể được biến đổi để bám dính vào các CTC trong máu. Chúng có thể được gắn trên các hạt từ (magnetic beads); CTC sẽ bám vào các hạt từ này, cho phép tách CTC ra khỏi mẫu máu để phân tích kết quả, xác định loại ung thư và giai đoạn bệnh từ chỉ 1ml máu của bệnh nhân.

GS Chuanbin Mao cho rằng qua đó tạo ra cơ chế tiềm năng là ngăn chặn sự hình thành mạch máu mới nuôi dưỡng khối u (anti-angiogenesis), làm giảm kích thước khối u. Kết quả có thể ức chế tế bào ung thư theo thời gian, kích thước khối u giảm vì ngăn mạch máu nuôi dưỡng nó.

Ở lĩnh vực phẫu thuật, GS Trần Trung Dũng (Hệ thống Y tế Vinmec) cũng đã chia sẻ việc tiên phong ứng dụng công nghệ in 3D trong điều trị chấn thương chỉnh hình và ung thư xương.

Theo ông Dũng, công nghệ này cho phép tái tạo cấu trúc xương phức tạp với độ chính xác cao, giúp bệnh nhân phục hồi chức năng tốt hơn và cải thiện chất lượng sống.

Những ca phẫu thuật thay thế xương chậu và xương đùi bằng vật liệu in 3D do ông thực hiện được đánh giá là bước tiến quan trọng, đưa Việt Nam tiệm cận trình độ quốc tế trong lĩnh vực này.

la_06138.jpg
Toàn cảnh tọa đàm

Tương tự, GS Pascale Cossart, một trong những nhà tiên phong của vi sinh vật học tế bào chia sẻ rằng kháng kháng sinh được coi là một trong những mối đe dọa sức khỏe toàn cầu lớn nhất hiện nay. Nếu không có biện pháp can thiệp, ước tính đến năm 2050, siêu vi khuẩn kháng thuốc có thể gây ra hàng triệu ca tử vong mỗi năm, vượt qua cả bệnh ung thư.

Nghiên cứu của bà giúp giải mã cách vi khuẩn xâm nhập cơ thể người và “ẩn náu” trong tế bào chủ. Qua đó, mở ra cách tiếp cận hoàn toàn mới đối với các bệnh truyền nhiễm, mở đường cho các liệu pháp điều trị nhắm trúng đích, thay đổi căn bản chiến lược phòng chống bệnh truyền nhiễm trong tương lai…

Lam Thanh