Nhịp đập công nghệ

Nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng ĐBSCL: Điểm nghẽn và chiến lược

Trần Đức Tín 17/12/2025 17:30

Sáng 17.12, tại Đại học Cần Thơ, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã tổ chức hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao tại TP.Cần Thơ”.

Bà Lê Mỹ Hạnh - Phó giám đốc Sở KH&CN TP.Cần Thơ phát biểu khai mạc Hội thảo - Ảnh: Trần Đức Tín
Bà Lê Mỹ Hạnh - Phó giám đốc Sở KH&CN TP.Cần Thơ phát biểu khai mạc Hội thảo - Ảnh: Trần Đức Tín

Nhân lực khoa học công nghệ - "điểm nghẽn trung tâm" trong phát triển bền vững ĐBSCL

Phát biểu tại hội thảo, bà Lê Mỹ Hạnh - Phó giám đốc Sở KH&CN TP.Cần Thơ đã khẳng định nguồn nhân lực khoa học công nghệ là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo (ĐMST), ứng dụng tri thức và công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất và chất lượng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số và chuyển đổi số (CĐS) tại địa phương.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu về nhân lực KH&CN không chỉ dừng ở năng lực nghiên cứu mà còn mở rộng sang năng lực làm chủ các công nghệ mới như tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và công nghệ sinh học.

Trăn trở về vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao, PGS-TS Vũ Tuấn Hưng - Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Nam Bộ, đồng Chủ tịch Liên minh các cơ quan Nghiên cứu ĐBSCL - cho rằng, hệ thống KH&CN của vùng ĐBSCL vẫn tồn tại nhiều hạn chế mang tính cơ cấu. Cụ thể ở 4 điểm sau:

PGS -TS Vũ Tuấn Hưng - Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ; Đồng Chủ tịch, Liên minh Các cơ quan Nghiên cứu Đồng Bằng sông Cửu Long - Ảnh: Trần Đức Tín
PGS -TS Vũ Tuấn Hưng - Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Nam Bộ, đồng Chủ tịch Liên minh các cơ quan Nghiên cứu ĐBSCL - Ảnh: Trần Đức Tín

Thứ nhất, là quy mô và chất lượng nhân lực KH&CN của các vùng còn thấp so với yêu cầu phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao và có khả năng tham gia vào các hoạt động nghiên cứu ĐMST.

Thứ hai, mức đầu tư cho KH&CN và ĐMST của vùng vẫn còn thấp. Chi ngân sách địa phương cho KH&CN ở nhiều tỉnh thuộc ĐBSCL chưa đạt mức kỳ vọng và thấp hơn so với các vùng kinh tế phát triển.

Thứ ba, hệ sinh thái ĐMST phát triển chưa đồng bộ.

Thứ tư, cơ chế, chính sách và phương thức quản lý KH&CN còn bất cập. Một số quy trình như đặt hàng, tuyển chọn, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN vẫn nặng tính hành chính; việc khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động KH&CN chưa hiệu quả.

Chiến lược nào để "phá vỡ điểm nghẽn" - khơi dậy nguồn nhân lực KH&CN?

Từ thực trạng trên của nguồn nhân lực vùng ĐBSCL, hội thảo đã đề ra các phương án mang tính khả thi cao để áp dụng trong thời gian sắp tới.

Theo PGS-TS Vũ Tuấn Hưng một trong những điểm cần tháo gỡ là thể chế, chính sách thu hút và giữ chân nhân tài. Trước hết, các tỉnh nên xây dựng "gói ưu đãi tổng hợp" dành cho chuyên gia, bao gồm hỗ trợ tài chính ban đầu, thu nhập tăng thêm và bảo đảm về nhà ở.

Gói này có thể gồm hỗ trợ 150–300 triệu đồng chi phí ban đầu, trợ cấp nhà ở 3–5 triệu đồng/tháng trong tối thiểu 24 tháng, cùng quyền đăng ký nhà ở công vụ hoặc nhà ở xã hội dành riêng cho nhóm chuyên gia KH&CN.

Đồng thời, một cải cách quan trọng là giảm mạnh gánh nặng hành chính đối với nhà khoa học. Cần áp dụng mô hình “giảm 50% nhiệm vụ hành chính” cho những chuyên gia dẫn dắt đề tài trọng điểm, giúp họ tập trung nghiên cứu thay vì hội họp và xử lý hồ sơ.

PGS-TS Lê Văn àng, Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp - Ảnh: Trần Đức Tín
PGS-TS Lê Văn Vàng, Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp - Ảnh: Trần Đức Tín

Đồng quan điểm đó, GS-TS. Nguyễn Trường Thịnh - Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ và Thiết kế, Đại học Kinh tế TP.HCM – đề xuất giải pháp xây dựng "Hệ sinh thái trung tâm": Lấy KH&CN làm trọng tâm để hướng đến mô hình Trung tâm Đào tạo và Đổi mới sáng tạo, nơi đây sẽ kết hợp chặt chẽ giữa 4 nguồn: chính quyền địa phương – trường đại học – doanh nghiệp và viện nghiên cứu.

Ông đề xuất nên xem lại chương trình đào tạo ở các trường đại học, liên kết với doanh nghiệp để xây dựng một quy trình đào tạo mang tính thực tiễn hơn. Sinh viên có thể chỉ theo học trong trường 2,5 năm, còn 1,5 năm làm việc thực tế tại doanh nghiệp. Như vậy, nguồn nhân lực sẽ mang tính thực tiễn KH&CN sát hơn theo nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội.

Ngoài ra, Cần Thơ nói riêng, ĐBSCL nói chung, đến giai đoạn nào đó nên hướng nguồn nhân lực đến mục tiêu biến cái khó khăn thành lợi thế, phải thấy được cơ hội trở thành “Trung tâm công nghệ nước lợ/nước mặn” của thế giới; tận dụng cơ hội đưa các dự án chống biến đổi khí hậu của thế giới về địa phương. Xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo Nông nghiệp thích ứng (Mekong Agri-Innovation Hub) để các startup đến Cần Thơ thử nghiệm các giống cây chịu mặn, công nghệ nuôi tôm tuần hoàn nước. Nhân lực chất lượng cao sẽ tụ về nơi có “bài toán lớn” để giải.

Tại TP.Cần Thơ tính đến năm 2025, có 113 tổ chức có hoạt động KH&CN, với 69 tổ chức có hoạt động KH&CN công lập và 44 tổ chức có hoạt động KH&CN ngoài công lập.

Về nhân lực, tính đến nay, TP.Cần Thơ có hơn 8.900 nhân lực KH&CN; trong đó hơn 4.200 người có trình độ sau đại học, gồm khoảng 1.200 tiến sĩ và 3.000 thạc sĩ . Mỗi năm TP.Cần Thơ cung cấp cho thị trường lao động lực lượng lớn nguồn nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn từ các trường đại học, cao đẳng và cơ sở giáo dục trên địa bàn.

Gian hàng VNPT - Ảnh: T.Đ.T
Gian hàng VNPT - Ảnh: T.Đ.T

Từ hội thảo, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, nhà khoa học đề nghị TP.Cần Thơ và các tỉnh trong vùng nhìn lại thực trạng nguồn nhân lực của địa phương mình; qua đó, có chiến lực đầu tư cho giáo dục đào tạo, nhất là lĩnh vực KH&CN, CĐS. Đồng thời các tỉnh thành cần có giải pháp phát triển, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao phục vụ mục tiêu ĐMST, CĐS và phát triển kinh tế - xã hội của TP.Cần Thơ nói riêng và ĐBSCL nói chung.

Trần Đức Tín