Cà phê Một thế giới

Anh hùng phi công Phạm Tuân: “B52, B57 hay B gì đi nữa, đã đánh là phải thắng!”

Lê Minh Đức 22/12/2025 06:50

Sắp bước sang tuổi 80 nhưng Trung tướng Phạm Tuân - phi công đầu tiên trên thế giới bắn rơi máy bay B52 và là người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ - vẫn rất bận rộn. Ông đi nhiều, và mỗi khi ở nhà lại xắn tay vào chăm sóc vườn lan, ao cá, lồng chim: “Tôi sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Thái Bình, khi lớn lên thì đất nước đang có chiến tranh. Tình yêu quê hương đất nước thúc giục chúng tôi ra chiến trường chứ không mơ mộng gì nhiều”, Trung tướng Phạm Tuân chân chất mở đầu cuộc trò chuyện.

ah-pham-tuan-pc-version_01.jpg
Anh hùng phi công, Trung tướng Phạm Tuân đang trò chuyện cùng phóng viên Một Thế Giới.

Trên đường tới nhà bác Phạm Tuân, tôi thấy tim mình đập nhanh hơn bình thường – cảm giác hồi hộp khi chỉ ít phút nữa sẽ lần đầu tiên được gặp gỡ người anh hùng mà thuở học trò tôi chỉ được biết tới trong sách giáo khoa. Đến nơi, thật bất ngờ khi trước mắt tôi là một… “lão nông”. Bác Phạm Tuân tỉ mỉ chăm sóc vườn lan và dường như không để ý tới tiếng chuông báo nhà có khách. Khi người giúp việc mở cửa đón phóng viên, ông xin phép “đang dở tay” một chút. 5 phút chờ đợi như một “khoảng trống” vừa đủ giúp tôi quan sát xung quanh căn nhà như một hệ sinh thái thu nhỏ hoà hợp với thiên nhiên, lắng nghe tiếng chim líu lo, ngắm nhìn đàn cá bơi lội, giúp tôi thư giãn, thoải mái hơn trước khi bước vào cuộc phỏng vấn Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động Phạm Tuân.

ah-pham-tuan-pc-version_03.jpg

- Xin chào Trung tướng Phạm Tuân! Chiến tranh đã lùi xa nhưng lớp lớp thế hệ người Việt Nam mỗi khi nhắc tới ông vẫn luôn ngưỡng mộ. Nhìn lại quá khứ, ông có thể chia sẻ lý do vì sao lại quyết định lên đường nhập ngũ khi đang học lớp 10?

- Trung tướng Phạm Tuân: Điều đó không có gì lạ. Thế hệ chúng tôi sinh ra và trưởng thành trong thời chiến, tất cả thanh niên đều đi bộ đội, tiếp bước cha anh. Tình yêu gia đình, quê hương, đất nước thúc giục chúng tôi ra trận. Vào khoảng giữa năm 1965 khi tôi đang học lớp 10 thì được gọi đi bộ đội.

Ngày ấy, rất nhiều thanh niên lên đường nhập ngũ. Cả xã tôi đi hàng trăm và cả huyện đi hàng nghìn người. Tôi cũng hoà vào dòng quân đi như “trảy hội”, bà con đứng hai bên đường động viên, cổ vũ, tự hào vô cùng. Nhưng háo hức bao nhiêu, khi tới huyện thi tuyển phi công tôi lại… tiu nghỉu bấy nhiêu khi chẳng có đơn vị nào nhận mình. Vậy là tôi phải ra về, hơn một tháng sau người ta lại gọi đi tuyển tiếp để học bay nhưng vẫn không trúng.

Phải chờ tới lần thứ 3, đợt tuyển quân ngày 2.9.1965 tôi mới được nhập ngũ vào binh chủng Không quân. Nhưng vì bị rối loạn nhịp tim, tôi không được đi bay mà học làm thợ máy. Một người con nông dân như tôi được tới Hà Nội đã mừng, lại còn sắp được sang Liên Xô học làm thợ máy thì cũng phấn khởi lắm rồi!

Sang Liên Xô, thợ máy và phi công học cùng Trường hàng không quân sự Krasnodar. Mình ngồi học trong lớp, nhìn ra bên ngoài lần đầu tiên thấy máy bay MiG-21cất cánh, hạ cánh ra sao, thả cái dù như thế nào thật… choáng ngợp. Tiếng MiG-21 “xé trời” bay lên khiến tôi rạo rực, chỉ mong sao có ngày được bay một chuyến là thoả mãn, chứ chẳng dám mơ ước cao xa.

ah-pham-tuan-pc-version_05.jpg
ah-pham-tuan-pc-version_07.jpg

- Và cơ duyên nào đã giúp ông chuyển từ một anh thợ máy sang làm phi công?

- Trung tướng Phạm Tuân: Tôi học thợ máy chuyên sửa chữa radar được một thời gian ngắn thì số phi công đi bay lại trượt nhiều do sức khoẻ không đảm bảo, kỹ thuật bay, tiếng Nga không tốt… Từ 130 anh đi bay thì trượt mất mấy chục anh nên đội lại thiếu người. Phía Việt Nam điện sang cho bạn, đề nghị bổ sung thêm bằng cách tuyển phi công bổ sung từ 300 người học thợ máy.

Đi tuyển, vượt qua các vòng, đến phòng điện tim thì tôi bị giữ lại. Ông thầy tuyển quân đưa cho tôi một cái giấy, giải thích tôi bị rối loạn nhịp tim. Tôi thầm nhủ thế là “hỏng rồi”, trượt! Đêm hôm ấy nằm thao thức trằn trọc không sao ngủ được nên tôi quyết định sáng hôm sau vẫn tiếp tục đi lên “ứng tuyển”.

Ông thầy gặp lại tôi rất ngạc nhiên vì tôi đã bị loại mà vẫn tới. Tôi cố gắng năn nỉ, bày tỏ nguyện vọng muốn được kiểm tra lại, tôi rất muốn bay và lần này, thầy đã cho tôi qua. Vào tới vòng tuyển cuối cùng, từ 300 thợ máy lấy được 10 người bay, trong đó có tôi. Đây là những phi công cuối cùng bay trên máy bay chiến đấu sơ đẳng nhất của Liên Xô ngày đó là MiG-17.

Lên lớp, những học viên mới như chúng tôi vất vả lắm do phải “học đuổi” tiếng Nga, lý thuyết, thực tế bay… so với các đồng chí lớp cũ vốn đã có thời gian bay nhiều trước đó. Nhưng các thầy rất tốt, vừa dạy mình bay vừa dạy mình học tiếng, dần dần cũng quen và cuối năm 1967 tôi tốt nghiệp.

ah-pham-tuan-pc-version_09.jpg

Lẽ thường chúng tôi sẽ về nước để chuẩn bị chiến đấu, nhưng thời điểm đó địch chủ yếu đánh phá ở miền Trung. Việt Nam đã đề nghị Liên Xô bồi dưỡng cho chúng tôi bay thêm một thời gian để nâng cao. Từ 30-40 phi công MiG-17, chọn một phi đội bay đêm gồm 10 người và tôi được chọn vào đội đó.

Về nguyên tắc, không bao giờ phi công tốt nghiệp xong là có thể bay đêm, mà phải bay ngày, bay trong mây, bay trong những điều kiện thời tiết phức tạp trước. Vì bay đêm trời tối, dễ cảm giác sai, vô cùng nguy hiểm! Lúc ấy, chúng tôi cũng không hiểu vì sao, chỉ biết cố gắng bay mà bay vào đúng vào mùa đông lúc tuyết nhiều nhất ở Liên Xô. Giáo viên của bạn cũng rất lo lắng bởi không biết là học sinh Việt Nam mới bay được 70-80 giờ MiG-17 mà giờ lại chuyển sang bay đêm có được không?

Nhưng rồi tất cả đều thở phào khi chúng tôi trải qua được thử thách ấy, về nước năm 1968 hợp với đội bay đêm của Trung đoàn 923 đã được thành lập ở trong nước. Mãi sau này, chúng tôi mới hiểu đó là bước tính toán chiến lược, thể hiện tầm nhìn xa của Đảng và Bác Hồ, của quân đội ta. Ngay từ thời điểm năm 1967, chúng ta đã hình dung ra trận “Điện Biên Phủ trên không” vào ban đêm, chiến thắng địch trên bầu trời Hà Nội.

ah-pham-tuan-pc-version_11.jpg
ah-pham-tuan-pc-version_13.jpg
ah-pham-tuan-pc-version2_02.jpg

- Ông được nhiều người biết tới với chiếc MiG-21 huyền thoại bắn rơi B52 vào đêm 27.12.1972. Trước đó, ông đã quá quen với MiG-17, và quá trình “chuyển đổi” từ MiG-17 sang MiG-21 có gặp nhiều khó khăn không?

- Trung tướng Phạm Tuân: Chúng tôi về nước và trong khoảng những năm 1968-1969 vẫn chưa có điều kiện triển khai bay đêm vì địch vẫn chủ yếu đánh phá từ khu 4 trở vào. Phải đến cuối năm 1970 sang đầu 1971, ta mới mới bắt đầu chọn 10 phi công MiG-17 lên bay MiG-21, trong đó có tôi.

Ban đầu, Trung đoàn 923 giữ không cho tôi chuyển tới Trung đoàn 921 (bay MiG-21 chiến đấu) vì tôi chơi bóng chuyền rất giỏi. Trong chiến tranh, tinh thần thể thao hăng lắm, cứ có ngày nghỉ, địch không đánh phá là lại tổ chức thi đấu giữa đơn vị này với đơn vị kia. Cũng rất may là khi ấy ông Đào Đình Luyện đang là Tư lệnh Không quân đã xuống hỏi tôi có thích bay MiG-21 không? Tôi thật thà có sao nói vậy “thích quá chứ vì MiG-21 bay cao, bay xa, bay nhanh”. Ông Luyện bảo “thế không được, phải bay để chiến đấu!”

Sau đó, tôi được chuyển bay MiG-21 và một lần nữa lại phải tự học để “đuổi” theo các anh em đã bay MiG-21 lâu rồi. Tôi đem sổ tay ngưới lái của các anh đi trước ra đọc cùng với việc được các đồng chí kỹ thuật giảng giải thêm, cứ thế dần dần cũng quen và bay tốt. Thực tế, lái MiG-17 khó hơn MiG-21 vì MiG-17 hệ thống không hiện đại bằng, không có tự động. Ví dụ, MiG-21 có đài chỉ về sân bay, và cứ xuyên mây đáp xuống. Hay với MiG-21, hai máy bay biên đội với nhau cứ vào mây là tách ra, tăng ga, tăng lực kéo lên là được. Nhưng MiG-17 thì vừa phải giữ tốc độ, vừa lượng lên. Điều quan trọng nhất, MiG-21 bắn tên lửa còn MiG-17 bắn súng cự ly 150m-200m, muốn kéo vào đón địch ở cự ly hợp lý cực kỳ khó! Chiến đấu dùng MiG-17 khó hơn MiG-21 nhiều.

Về kỹ thuật là thế, tôi lại có sẵn nền tảng bay đêm nên sau một thời gian lái MiG-21, tôi chuyển sang đơn vị bay đêm suốt những năm 1971-1972 - phi đội mà sau này đã chiến đấu 12 ngày đêm với B52.

Nói thì nhanh nhưng hành trình để trở thành phi công MiG-21, trở thành phi công chiến đấu đánh B52 của tôi rất gian truân. Tôi hay đùa nói với anh em rằng: các anh “trượt” từ phi công xuống, còn tôi lại “trượt” từ dưới lên.

ah-pham-tuan-pc-version2_04.jpg
ah-pham-tuan-pc-version2_06.jpg

- Trong những ngày đêm đánh B52, ông đã nhiều lần đối mặt với những khoảnh khắc sinh tử?

- Trung tướng Phạm Tuân: Năm 1972, tôi trực đêm, xuất kích nhiều nhưng không có cơ hội đánh địch. Các anh cùng lứa với tôi như anh Đạo (AHLLVT Lê Thanh Đạo – PV), anh Soát (AHLLVT Nguyễn Đức Soát – PV), anh Thái (AHLLVT Phạm Phú Thái - PV)… đều đã bắn rơi 4-5 chiếc máy bay, còn mình chẳng bắn được chiếc nào nên rất sốt ruột. Không phải vì thành tích nhưng đã là phi công trong chiến tranh thì ai cũng đều mong muốn bắn rơi máy bay địch. Chúng ta đã chuẩn bị đánh B52 trong suốt nhiều năm và Bác Hồ đã khẳng định: Mỹ thế nào cũng thua nhưng chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Và cũng dặn bộ đội chúng ta là Mỹ có B52, B57 hay B gì đi nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là phải thắng.

Đúng đêm 18.12, địch đánh vào Hà Nội, tôi trực sân bay Nội Bài, anh Trần Cung trực ở Hoà Lạc, hôm đó chỉ có 2 chiếc máy bay trực. Khoảng 19 giờ tối, máy bay địch ném bom phá hỏng đường băng sân bay. Tôi cất cánh lên rất gấp tăng lực đuổi B52 bởi đã có lệnh B52 vào thì bằng bất cứ giá nào chúng ta cũng phải đánh. Nếu không đánh rơi được thì cũng phải đuổi, không để B52 ném bom vào Hà Nội. Quyết tâm như vậy nên có nhiều anh phi công đã nói sẵn sàng làm quả tên lửa thứ ba, nếu bắn hai quả không trúng, tình thế rất căng thẳng.

Bay qua Hà Nội, Sơn Tây, đến Hòa Bình thì tôi gặp B52. Mình kéo lên, bật tăng lực thì luồng lửa động cơ do MiG-21 phát ra, bị F4 của địch phát hiện, bám theo. Tôi bay mấy vòng cố gắng tìm kiếm mục tiêu nhưng không phát hiện được, hết dầu phải về hạ cánh, nhưng các sân bay Kép, Thọ Xuân… đều bị đánh bom phá hỏng hết ngay trước khi B52 vào. Cuối cùng tôi phải tự hạ cánh xuống sân bay Nội Bài. Vừa đáp xuống chạm đất vào ngay hố bom, máy bay bật lên cao, đổ nghiêng chạy bằng cánh kêu ầm ầm, rung lắc dữ dội và quay 180 độ bật ngửa. May là tôi đã kịp tắt máy và dầu cũng cạn nên là máy bay không bị cháy, tôi đập buồng lái chui ra, chỉ bị sứt đầu.

Anh thử nghĩ xem, ô tô với tốc độ trên 100km lật ngửa còn khó thoát nữa là máy bay lúc đó tốc độ 250-270km/giờ? Không có may mắn tối 18.12 thì làm gì còn Phạm Tuân bắn rơi B52 đêm 27.12 và Phạm Tuân bay vào vũ trụ (cười).

Đêm hôm đó, tôi ra khỏi máy bay và không biết mình nằm ở chỗ nào, trời đêm mù mịt. Chỉ biết rằng trong đêm định mệnh ấy, chiếc B52 đầu tiên đã bị kíp chiến đấu Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261 với bệ phóng tên lửa từ mặt đất tiêu diệt ở đầu sân bay Nội Bài.

ah-pham-tuan-pc-version2_08.jpg
ah-pham-tuan-pc-version2_10.jpg

- Khoảnh khắc trở thành phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi B52 chắc chắc là khoảnh khắc đẹp nhất mà ông không thể nào quên?

- Trung tướng Phạm Tuân: Suốt thời gian 7 ngày đầu tiên của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” mình không đánh được. Máy bay của ta cứ xuất kích, bay lên là F4 của địch phát hiện, nó chặn, nó gây nhiễu, không dẫn đường được.

Sang đến ngày 25.12 ta rút kinh nghiệm, nhận thấy rằng thẳng hướng máy bay thì nhiễu rất mạnh, còn hai bên sườn máy bay nhiễu ít. Đặc điểm đáng chú ý nữa là ta cất cánh ở những sân bay trung tâm đều bị địch đón chặn hết, không dẫn đường được.

Đến đây, Sở chỉ huy ta quyết định dùng đài dẫn đường ở xa như tại Mộc Châu, Sơn La, Thanh Hóa, đài chỉ huy, radar cũng ở đó. Máy bay thì chúng ta mang đi các nơi, tôi bay trên Yên Bái, anh Vũ Xuân Thiều bay ở Thọ Xuân (Thanh Hóa)... Và chính điều đó khiến địch không đoán được.

ah-pham-tuan-pc-version2_12.jpg
ah-pham-tuan-pc-version2_13.jpg

Tôi ở Yên Bái, đêm nào địch cũng đánh. Không biết sao riêng đêm 27.12 địch lại không đánh, có lẽ là địch không biết mình lên đấy, bí mật, bất ngờ. Tôi cất cánh đêm 27.12 rất thuận lợi, đài radar phát hiện tốt, dẫn đường rất tốt và tôi lách khỏi đội hình F4 bảo vệ của địch, tiếp cận được B52. Đến cự ly khoảng 3-4km, Sở chỉ huy cho phép bắn. Tôi mang số hiệu 361, chỉ huy ra lệnh “361 bắn, thoát ly ngay”, tôi trả lời “nghe tốt chờ tí!”. Lệnh thứ hai lại “bắn, thoát ly ngay” vì sợ mình ham quá, đâm vào máy bay địch, tôi vẫn nói “chờ tí”. Phải đến lệnh thứ ba, tôi đáp “nghe tốt, tôi bắn”.

Tôi bắt đầu nâng máy bay lên, chỉnh điểm bắn. Địch bay cao khoảng 10-11km, mình bay khoảng 9km, kéo lên, bắn hai quả tên lửa chéo lên phía trước.

Sau đó, máy bay địch nổ chùm lên và tôi không còn nhìn thấy gì nữa. Tôi báo cáo đã bắn, và tôi về hạ cánh xuống sân bay Yên Bái. Vừa hạ cánh xuống thì đúng lúc là F4 đuổi đến bay qua, may mà mình nhanh đã kịp hạ cánh an toàn.

Ngay đêm hôm sau, đêm 28.12, anh Vũ Xuân Thiều cũng trong tình huống giống tôi. Anh Thiều bay ở sân bay Cẩm Thuỷ, bay lên phát hiện B52 ở cự ly rất gần. Nếu là các máy bay khác thì sẽ không bắn, nhưng mà riêng B52 thì quyết tâm bắn. Anh Thiều xin phép bắn, ở cự ly rất gần và đâm luôn vào B52.

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, tôi và anh Thiều đã bắn rơi được 2 máy bay B52.

ah-pham-tuan-pc-version2_15.jpg
ah-pham-tuan-pc-version3_02.jpg

- Chiến công ấy ghi danh ông là phi công đầu tiên trên thế giới bắn rơi “siêu pháo đài bay B52”. Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới hạ được B52. Lúc đó và cho tới tận bây giờ, chúng ta vẫn chưa sản xuất được máy bay nhưng kỹ thuật lái máy bay chiến đấu của phi công Việt Nam rất đáng tự hào. Điều đó nói lên phẩm chất anh hùng của bộ đội ta, và con người mới là trung tâm trong sự phát triển của khoa học công nghệ.

-Trung tướng Phạm Tuân: Mỗi phi công chúng tôi đều có những cách thức, những cảm nhận riêng của mình trên bầu trời. Kỹ thuật bay ai cũng học như nhau nhưng khi vào ứng dụng chiến đấu lại khác nhau. Tôi vẫn nói là tôi may mắn chớp được thời cơ. Nghĩa là cùng thời cơ như thế, nhưng mà anh chỉ cần nhanh hay chậm một chút thôi thì đều không thành công.

Tôi ví dụ, máy bay địch đang bay phía trước, đúng thời điểm máy bay địch lượn sang bên, anh bắn đúng cự ly, đúng thời điểm khi máy bay địch đang lật thì được. Nhưng để nó chuyển sang bên xong, nó kéo lên chỉ trong vài phần trăm giây thôi là trượt. Hay muốn bắn được máy bay địch, anh phải kéo máy bay đón đầu, sau đó lại phải giảm lực sao cho vừa vặn tên lửa đi thẳng trúng mục tiêu. Nếu kéo khoẻ quá, bắn tên lửa sẽ trượt đi.

Trong chiến tranh, mọi quyết định đều được đưa ra trong tích tắc và có nhiều người hỏi chúng tôi có sợ chết không? Ai chẳng sợ chết nhưng từ trước khi bay vào bầu trời bảo vệ gia đình, quê hương, đất nước, chúng tôi luôn luôn xác định đây có thể là chuyến bay có đi mà không có về, có thể sẽ phải nhảy dù, có thể sẽ phải hy sinh. Vào trận là chỉ biết tập trung vào chiến đấu và chiến thắng chứ không còn suy nghĩ gì khác.

Anh hùng phi công Phạm Tuân khẳng định lái MiG-17 chiến đấu khó hơn MiG-21.
ah-pham-tuan-pc-version3_04.jpg
ah-pham-tuan-pc-version3_05.jpg
ah-pham-tuan-pc-version3_07.jpg

- Sau những trải nghiệm “có một không hai” trong thời chiến, ông có thể chia sẻ điều gì đã giúp mình có được sự bình tĩnh, sáng suốt trong thời khắc ra quyết định sống còn?

- Trung tướng Phạm Tuân: Đầu tiên là ý chí, cái đó thì ai cũng tốt. Nhưng điều cốt lõi là cách làm. Nghĩa là về kỹ thuật bay, có anh bay rất giỏi nhưng đánh nhau lại không giỏi. Ngược lại, có anh bay bình thường nhưng đánh nhau rất tốt. Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy là điển hình. Anh Bảy chỉ là người bay ổn định, không phải là phi công bay giỏi nhất của đoàn. Nhưng anh càng đánh càng hay, lái MiG-17 bắn rơi 7 máy bay tối tân của Mỹ.

- Trong thời bình, ông có thời gian làm Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, tham gia lĩnh vực đảm bảo hiện đại hóa quân đội Việt Nam. Vậy những trải nghiệm của thời chiến đã giúp gì cho ông khi làm công tác quản lý?

- Trung tướng Phạm Tuân: Tôi nghĩ đó là sự tự tin, phải tự tin vào chính mình và tin vào việc mình làm. Tiếp theo là phải nhạy cảm. Thứ ba là quyết đoán. Tự tin, nhạy cảm, quyết đoán là những phẩm chất quan trọng trong cả thời chiến lẫn thời bình.

- Trong thời chiến, ông là phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi B52, tới thời bình, ông lại là người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ. Xin ông chia sẻ những kỷ niệm khi “không trọng lượng”…

- Trung tướng Phạm Tuân: Đất nước thống nhất năm 1975, tới năm 1977, tôi lại được cử sang Liên Xô học tập tại Học viện Không quân Gagarin. Năm 1978, đồng chí Lê Duẩn sang Liên Xô ký hiệp ước chiến lược, phía bạn mời chúng ta tham gia chương trình Interkosmos thể hiện vai trò của các nước xã hội chủ nghĩa thời điểm đó và Việt Nam đã nhận lời.

Theo chương trình, Việt Nam sẽ tuyển 4 phi công sang Liên Xô. Ban đầu, tôi không được chọn bởi bị rối loạn nhịp tim như đã chia sẻ ở trên. Nhưng không biết thế nào, Việt Nam tuyển 4 và chỉ được có 3, tôi đang học ở Liên Xô thì được gọi vào luôn cho đủ 4. Người được “chọn mặt gửi vàng” là anh Cốc (anh hùng phi công Nguyễn Văn Cốc – PV) và tôi cũng yên tâm mình vào cho đủ thôi. Nhưng sau nửa tháng tuyển chọn, bên Liên Xô không lấy anh Cốc mà lại tuyển tôi. Như vậy là một lần nữa tôi lại “trượt” từ dưới lên.

ah-pham-tuan-pc-version3_09.jpg
ah-pham-tuan-pc-version3_11.jpg

Ngày 23.7.1980, tôi trở thành người Việt Nam và người châu Á đầu tiên bay vào không gian cùng với nhà du hành vũ trụ Liên Xô Viktor Gorbatko. Tàu Soyuz 37 của chúng tôi được phóng vào không gian từ sân bay vũ trụ Baikonur. Đặc trưng lớn nhất của vũ trụ là không trọng lượng. Khi tàu vừa được phóng, người bị mất sức hút của trái đất nên máu không lưu thông bình thường mà đưa lên đầu nhiều hơn xuống chân. Mặt tôi bị sưng phồng, mất ngủ mấy ngày. Việc di chuyển và làm việc trên tàu vũ trụ rất khó khăn. Về dinh dưỡng, chúng tôi chỉ có đồ khô được chế như những tuýp kem đánh răng để ăn và uống hai lít nước mỗi ngày.

Chúng tôi bay 8 ngày, 144 vòng quanh trái đất, chuyến bay về cơ bản rất thuận lợi, chỉ có một lần lắp ghép ở vòng 19-20. Con tàu đang bay vòng vòng bỗng nhiên dừng lại, không thể bay tiếp. Lúc đó, chúng tôi không biết làm thế nào và cũng không liên lạc được với trái đất. Vậy là quyết định tắt máy, chờ tới khi nó ở gần Moscow nhất thì báo cáo. Sau khi nhận báo cáo, Trung tâm ở Moscow đã hướng dẫn cho chúng tôi xử lý ổn thoả và tiếp tục hành trình, trở về trái đất ngày 31.7.1980.

Điều tôi tự hào nhất là đã mang được những kỷ vật của Việt Nam vào vũ trụ, đó là cờ Tổ quốc, Tuyên ngôn Độc lập, Di chúc, ảnh của Bác Hồ, nắm đất Ba Đình… Ở cuộc họp báo sau khi trở về trái đất, tôi đã mang tất cả những kỷ vật đó đó ra trưng bày, quay video gửi đến toàn thế giới công bố Việt Nam đã bay vào vũ trụ.

ah-pham-tuan-pc-version3_13.jpg
ah-pham-tuan-pc-version4_02.jpg

- Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông từng nhiều lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông có thể chia sẻ những kỷ niệm với Đại tướng?

- Trung tướng Phạm Tuân: Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh thời luôn rất gần không quân chúng tôi. Kỷ niệm đầu tiên là một hôm tôi đang trực chiến ở sân bay Hoà Lạc thì bất ngờ Đại tướng đưa cả gia đình tới. Chúng tôi cảm thấy rất lạ bởi Đại tướng tới mà chỉ có thư ký và gia đình đi cùng, không có bảo vệ. Đại tướng mới bảo làm việc mệt quá nên buổi chiều tranh thủ vào thăm các cậu. Chỉ trong ít phút trò chuyện, được bắt tay Đại tướng mà chúng tôi cảm thấy được động viên rất nhiều.

Tới khi bắn rơi B52, tôi lại được Đại tướng cho gặp riêng, nghe tôi kể chuyện đánh B52. Sau này, thời điểm tôi học bay vào vũ trụ ở Liên Xô, Đại tướng nhiều lần tới nhà tôi nằm trong Trung tâm Ngôi sao, chụp ảnh lưu niệm với vợ chồng tôi. Trước thời khắc chúng tôi bay vào vũ trụ, Đại tướng cũng dành thời gian tới sân bay vũ trụ Baikonur, tiễn tôi ra bệ phóng.

Ngày ấy tôi chẳng biết lấy gì để cảm ơn sự quan tâm đặc biệt của Đại tướng. Cũng may là ông Viktor Gorbatko nhắc, tôi đã tháo cái gương đeo tay tặng Đại tướng và lấy gương dự bị ra đeo, bay vào vũ trụ. Tới khi trở về, tôi lại được Đại tướng đón.

ah-pham-tuan-pc-version4_04.jpg
ah-pham-tuan-pc-version4_06.jpg
ah-pham-tuan-pc-version4_08.jpg

- Có lời khuyên nào của Đại tướng mà ông luôn ghi nhớ?

- Trung tướng Phạm Tuân: Đại tướng lúc đó chỉ nói rất ngắn gọn: Các cháu là người Việt Nam, các cháu hãy cố gắng thể hiện được truyền thống của Việt Nam. Các nước bay được, ta cũng phải bay được. Các cháu hãy cố gắng làm được điều đó.

- Lúc này, khoa học công nghệ phát triển rất mạnh mẽ. Với những gì đã trải qua, ông lời nào muốn nhắn nhủ, giúp thế hệ trẻ Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên số?

- Trung tướng Phạm Tuân: Ai cũng thấy con người Việt Nam có nhiều tiềm năng, thông minh, nhanh nhẹn và rất sáng tạo! Trong chiến tranh, chúng ta không sáng tạo thì không thể thắng được các cường quốc như Pháp, Mỹ. Nghĩa là từ trong truyền thống, chúng ta đã có ý chí, lòng dũng cảm, quyết tâm, tinh thần ham học hỏi... Bây giờ làm sao phải khơi dậy nó lên và đặc biệt là làm sao phải sáng tạo trong khoa học thì mới phát triển được.

Nếu không có đầu óc sáng tạo mà chỉ mò mẫm theo con đường lý thuyết, làm theo họ thì chúng ta sẽ mãi ở phía sau. Ta làm được cái này giống họ thì họ đã làm được cái khác cao hơn… Kiến thức lý thuyết là nền tảng chung, nhưng sáng tạo ra sao, cách làm, phương pháp như nào mới quyết định sự đột phá.

ah-pham-tuan-pc-version4_10.jpg
Anh hùng phi công Phạm Tuân khẳng định con người Việt Nam có nhiều tiềm năng, thông minh, nhanh nhẹn và rất sáng tạo.

- Xin hỏi ông một câu bên lề. Ông đã sắp bước sang tuổi 80 nhưng tinh thần vẫn rất minh mẫn. Vậy ông có bí quyết gì?

- Trung tướng Phạm Tuân: Tôi thấy cũng chẳng có gì to tát để gọi là bí quyết. Điều đầu tiên, mình phải tin vào mình, xác định phải tự tin. Khi làm việc thì tin vào công việc mình làm; khi nghỉ thì cũng tin vào những gì mình cần làm. Nghĩa là mình luôn giữ được sự tự tin, bình tĩnh.

Điều thứ hai là hãy quan tâm tới mình, quan tâm đến dinh dưỡng, sinh hoạt… Tôi có rất nhiều thói quenđã được duy trì nhiều năm qua. Ví dụ, với tôi, thể dục là thế nào cũng phải có, hầu như chiều nào tôi cũng chơi bóng bàn. Tiếp theo là đi câu cá, đi du lịch trong và ngoài nước. Thứ ba là vui thú điền viên. Đằng trước nhà tôi có hồ cá, đằng sau cũng có hồ cá, vườn chim, trên tầng thượng có một vườn phong lan. Tất cả những điều đó giúp tôi cảm thấy được hoà mình với thiên nhiên, chung sống với thiên nhiên.

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi thân tình. Chúc ông luôn mạnh khoẻ để tiếp tục là một tấm gương, người truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ Việt Nam.

ah-pham-tuan-pc-version4_12.jpg

Lê Minh Đức