Câu chuyện ngành y

Vì sao cập nhật sổ SKĐT tại Cần Thơ hiệu quả chưa cao?

Văn Kim Khanh 14/01/2026 13:45

TS Hoàng Quốc Cường - Giám đốc Sở Y tế TP.Cần Thơ - cho rằng, việc triển khai sổ sức khỏe điện tử (SKĐT) tại TP.Cần Thơ đạt tỷ lệ chưa cao do thói quen người dân, hạn chế công nghệ và sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các đơn vị.

HOANG QUOC CUONG 1
TS Hoàng Quốc Cường, Giám đốc Sở Y tế TP.Cần Thơ - Ảnh: V.K.K

Thực trạng triển khai sổ SKĐT tại các cơ sở y tế

Cập nhật sổ SKĐT là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế trong tiến trình chuyển đổi số (CĐS) quốc gia. Thời gian qua, nhiều địa phương tại ĐBSCL đã đẩy mạnh triển khai nội dung này, gắn với việc sử dụng thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chip và ứng dụng VNeID. Tuy nhiên, tại TP.Cần Thơ, kết quả đạt được còn khá khiêm tốn, chưa đạt 30% tính đến cuối năm 2025.

Theo báo cáo của ngành y tế TP.Cần Thơ, tỷ lệ người dân có sổ SKĐT được cập nhật đầy đủ thông tin mới đạt 29,76%, tương đương 959.844/3.224.937 người. Con số này cho thấy quá trình số hóa dữ liệu y tế vẫn còn gặp nhiều rào cản trong thực tiễn.

Trao đổi với một bác sĩ tại Bệnh viện Đa Khoa Hòa Hảo Medic Cần Thơ, vị bác sĩ cho biết: Phần lớn bệnh nhân đến khám bệnh là người từ 50 tuổi trở lên. Nhiều người vẫn giữ thói quen mang theo sổ khám bệnh bằng giấy, chưa cập nhật định danh mức độ 2 hoặc chưa tích hợp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) vào ứng dụng VNeID. Do đó, việc sử dụng sổ SKĐT trong khám chữa bệnh chưa thể đạt kết quả 100%. Bên cạnh đó, hiện chưa có bệnh viện nào ban hành quy định bắt buộc bệnh nhân phải sử dụng thẻ căn cước (TCC) khi đi khám bệnh.

BHYT 4
Khám bệnh BHYT - Ảnh: Internet

Một bác sĩ chuyên khoa tim mạch - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ - cũng chia sẻ quan điểm tương tự. Theo vị bác sĩ này, những người trẻ tuổi thường chấp nhận sử dụng TCC và ứng dụng VNeID khi đi khám bảo hiểm y tế (BHYT). Tuy nhiên, nhóm bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên vẫn chủ yếu sử dụng sổ khám bệnh bằng giấy. Ước tính, gần 50% số bệnh nhân hiện nay vẫn duy trì thói quen khám bệnh theo phương thức truyền thống.

Ông Dương Văn Đây - 69 tuổi, ngụ P.Trà Nóc, TP.Cần Thơ - khi đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, cho biết: “Tôi lớn tuổi, dùng TCC nhiều khi bác sĩ dặn về thuốc, về thời gian uống sáng hay chiều mình hay quên. Tôi xem lại cho nó chắc chắn, uống sai thuốc nguy hiểm. Thêm nữa, ngày tái khám mình cũng dễ xem lại, đi tái khám cho nó đúng". Chia sẻ này phản ánh tâm lý phổ biến của người cao tuổi, ưu tiên sự thuận tiện và an toàn hơn là công nghệ.

Trong khi đó, TS-BS Nguyễn Văn Thái - Phó giám đốc Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ (DNC) - cho biết, bệnh viện hiện đã triển khai 100% việc sử dụng sổ SKĐT và TCC trong khám chữa bệnh. Theo ông, kể cả với bệnh nhân cao tuổi, bệnh viện vẫn thực hiện khám chữa bệnh theo quy định mà không gặp trở ngại lớn. Tuy nhiên, mô hình này chưa được nhân rộng đồng bộ tại tất cả các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố.

HQC 2
Sổ khám bệnh BHYT tại Cần Thơ - Ảnh: Văn Kim Khanh

Nguyên nhân hạn chế và giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số y tế

Theo TS Hoàng Quốc Cường - Giám đốc Sở Y tế TP.Cần Thơ - tỷ lệ người dân có sổ SKĐT được cập nhật đầy đủ thông tin còn thấp do nhiều nguyên nhân. Trước hết, không ít người dân dù có điện thoại thông minh nhưng chưa cài đặt ứng dụng VNeID, chưa kích hoạt tài khoản định danh mức 2 hoặc quên mật khẩu. Một số người không thấy rõ lợi ích của việc tích hợp BHYT và sử dụng sổ SKĐT, dẫn đến tâm lý thờ ơ với các tiện ích số.

Bên cạnh đó, việc liên thông dữ liệu y tế giữa các cơ sở và các bên liên quan chưa thực sự đồng bộ, còn chậm và thiếu tính kịp thời. Công tác phối hợp chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và phân công nhiệm vụ ở một số nơi chưa quyết liệt, thậm chí còn tình trạng “đùn đẩy” trách nhiệm, chưa xem đây là nhiệm vụ ưu tiên trong chuyển đổi số y tế.

Để khắc phục những hạn chế này, ngành y tế TP.Cần Thơ đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể. Trước hết, tiếp tục chỉ đạo các cơ sở y tế đảm bảo 100% nhân viên y tế và người nhà nhân viên y tế thực hiện định danh VNeID mức 2 và tích hợp thẻ BHYT vào VNeID. Đây được xem là lực lượng nòng cốt trong việc lan tỏa thói quen sử dụng SSKĐT ra cộng đồng.

Ngành y tế cũng phối hợp với phường, xã tổ chức hướng dẫn người dân cài đặt ứng dụng VNeID, kích hoạt tài khoản mức 2 và tích hợp BHYT. Đồng thời, tăng cường truyền thông tại các cơ sở khám chữa bệnh, trạm y tế và khu dân cư để người dân hiểu rõ lợi ích, chủ động cài đặt và sử dụng sổ SKĐT. Mỗi đơn vị được phân công đầu mối phụ trách theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến độ cập nhật dữ liệu.

Ngoài ra, các cơ sở y tế được chỉ đạo bố trí nhân viên hướng dẫn người dân tích hợp thẻ BHYT lên VNeID và đăng ký khám bệnh bằng TCC tại bộ phận tiếp nhận bệnh, đặc biệt tập trung vào bệnh nhân nội trú và người nhà bệnh nhân. Việc hướng dẫn trực tiếp được kỳ vọng sẽ giúp người dân, nhất là người cao tuổi, làm quen dần với quy trình số hóa.

Công tác tuyên truyền cũng được tăng cường thông qua việc nhắc nhở người dân mang theo TCC khi đi khám bệnh, xây dựng các video hướng dẫn tích hợp thẻ BHYT lên VNeID tại khu chờ khám và trong các chương trình truyền thông nội viện. Những hình thức trực quan, dễ hiểu được xem là phù hợp với nhiều nhóm đối tượng khác nhau.

Song song đó, ngành y tế phối hợp với lực lượng Công an để xử lý các trường hợp sai lệch thông tin, đảm bảo dữ liệu cá nhân được chuẩn hóa trước khi tích hợp vào Cổng dữ liệu y tế tập trung và gửi lên VNeID.

Việc ban hành quy trình nghiệp vụ chuẩn về tạo lập, cập nhật và đồng bộ sổ SKĐT cũng được xem là bước quan trọng nhằm nâng cao tính thống nhất và hiệu quả triển khai.

Văn Kim Khanh