Tăng trưởng 10%: Khát vọng lớn và bài kiểm tra khó của nền kinh tế
Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên.
Cùng với đó là đích GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD vào năm 2030, hướng tới mục tiêu xa hơn: đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Việt Nam không chấp nhận đi chậm trong giai đoạn bản lề
Không khó để nhận ra đây là một mục tiêu rất tham vọng, nhưng thực chất là một tuyên bố về nhịp độ phát triển, một cách khẳng định rằng Việt Nam không chấp nhận đi chậm trong giai đoạn bản lề, khi nguy cơ tụt hậu – được nhắc tới từ Nghị quyết Đại hội VII năm 1991 – vẫn chưa hoàn toàn được hóa giải.
Tuy nhiên, chính vì vậy, 10% cũng trở thành một bài kiểm tra khó, không chỉ đối với năng lực điều hành kinh tế, mà còn với chất lượng thể chế và cách thức lựa chọn con đường tăng trưởng.
Nhìn ra thế giới, tăng trưởng hai con số chưa bao giờ là trạng thái phổ biến. Theo Ngân hàng Thế giới, từ năm 1990 đến nay chỉ có 34 nền kinh tế thành công chuyển từ thu nhập trung bình lên thu nhập cao, trong khi 108 quốc gia vẫn mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình”.

Trên thực tế, chưa từng có quốc gia nào duy trì tăng trưởng hai con số liên tục trong suốt hai thập kỷ. Ngay cả những hình mẫu được coi là thành công nhất cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Hàn Quốc trong 30 năm từ 1960 đến 1990 đạt tăng trưởng GDP trung bình 9,58%/năm, nhưng chỉ có 14 năm vượt mốc 10%, năm cao nhất đạt 14,8% vào 1973. Trung Quốc trong 30 năm cải cách từ 1977 đến 2007 đạt tăng trưởng bình quân 10,02%/năm, với 15 năm tăng trưởng trên 10% và mức cao nhất là 15,14% vào năm 1984.
Điểm chung là tăng trưởng cao chỉ xuất hiện trong những giai đoạn bứt phá nhất định, không kéo dài vô hạn, và luôn đi kèm những đợt điều chỉnh, tái cơ cấu.
Điều đó cho thấy một thực tế quan trọng: tăng trưởng hai con số, nếu có, cũng chỉ có thể là những pha tăng tốc có kiểm soát, chứ không phải trạng thái bình thường kéo dài. Vì vậy, mục tiêu 10% không nên được hiểu như một cam kết “duy trì bằng mọi giá”, mà như một điểm neo chiến lược để buộc nền kinh tế phải chuyển động nhanh hơn trong một giai đoạn then chốt.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam, độ khó còn hiện rõ hơn. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân có xu hướng giảm dần theo thời gian: từ 7,56% giai đoạn 1991–2000 xuống 7,26% giai đoạn 2001–2010, còn 5,95% giai đoạn 2011–2020. Giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng bình quân khoảng 6,3%/năm.
Suốt gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam chưa từng đạt tăng trưởng hai con số một cách bền vững, kể cả khi nền kinh tế còn nhỏ và dư địa cải cách rất lớn.
Thực tế này đặt ra một yêu cầu khắt khe: nếu trong giai đoạn “dễ hơn” mà Việt Nam vẫn chưa từng duy trì được tăng trưởng hai con số, thì trong bối cảnh hiện nay, chỉ tăng cường độ điều hành là không đủ.
Muốn tiến gần hơn tới mục tiêu 10%, nền kinh tế buộc phải thay đổi chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ làm nhanh hơn những việc đã làm trước đây. Đây chính là ranh giới giữa khát vọng phát triển và tư duy duy ý chí.
Chuyên gia Trần Đình Thiên nhìn nhận rất thẳng thắn: mức độ bất khả thi của mục tiêu 10% là rất cao, nhưng không đồng nghĩa với việc không thể làm được. Nền kinh tế càng lớn thì càng khó tăng trưởng nhanh. Chính vì vậy, nếu ngay từ đầu đã “hạ quyết tâm” xuống 8–9% và coi đó là đủ, thì khi quy mô nền kinh tế lớn hơn, cánh cửa đạt tăng trưởng hai con số sẽ càng hẹp lại.
Theo logic này, mục tiêu 10% mang ý nghĩa dẫn dắt tư duy. Nó không phải để chạy theo thành tích, mà để buộc hệ thống phải suy nghĩ khác, làm khác. Câu hỏi không nằm ở chỗ con số đó cao hay thấp, mà nằm ở chỗ: chúng ta sẽ đạt nó bằng cách gì.
Ở góc nhìn khác, chuyên gia Phạm Chi Lan coi mục tiêu 10% vừa là khát vọng, vừa là một bài kiểm tra rất nghiêm khắc đối với năng lực thể chế. Khát vọng là cần thiết, bởi không quốc gia nào có thể bứt lên bằng tư duy an toàn, trong khi tiềm năng về con người, doanh nghiệp, sáng tạo và thị trường của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Nhưng nếu tăng trưởng cao được theo đuổi chủ yếu bằng cách mở rộng đầu tư, đẩy mạnh tín dụng, triển khai các dự án quy mô lớn trong khi thể chế và năng lực giám sát chưa theo kịp, thì cái giá phải trả trong tương lai có thể rất đắt.
Lịch sử đã cho thấy không ít giai đoạn tăng trưởng nhanh đi kèm nợ công, đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp, để lại những “di sản” mà thế hệ sau phải xử lý. Vì vậy, theo bà Lan, điểm mấu chốt không nằm ở bản thân con số 10%, mà ở chất lượng thể chế và năng suất đứng phía sau con số đó.
Một chi tiết rất quan trọng thường bị xem nhẹ là vai trò của thị trường trong nước. Tiêu dùng chiếm khoảng hai phần ba GDP và là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế. Đồng thời, thị trường nội địa cũng là thị trường chủ yếu của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thu nhập của người dân tăng chậm, nếu tầng lớp trung lưu bị co hẹp, nếu sức mua xã hội yếu đi, thì doanh nghiệp rất khó mở rộng đầu tư và nâng cấp năng lực sản xuất, cho dù đầu tư công hay xuất khẩu có được thúc đẩy. Tăng trưởng 10% chỉ có thể bền vững khi nó gắn với việc nâng cao thu nhập và đời sống của người dân, chứ không phải chỉ dựa vào các cú hích từ phía cung.
Tiếp cận từ góc độ lý thuyết phát triển, chuyên gia Nguyễn Đình Cung chỉ ra rằng các nền kinh tế đi qua ba giai đoạn: tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào tài nguyên, lao động và vốn; tăng trưởng theo chiều sâu dựa vào năng suất và hiệu quả; và giai đoạn cao hơn, nơi khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu. Giữa các giai đoạn này luôn có thời kỳ quá độ, không thể nhảy cóc.
Không chỉ khác nhau về thứ tự, trọng số đóng góp cho tăng trưởng ở mỗi giai đoạn cũng thay đổi rõ rệt. Ở giai đoạn tăng trưởng theo chiều rộng, khoảng 60% tăng trưởng đến từ mở rộng quy mô, 30% từ năng suất và chỉ 10% từ đổi mới sáng tạo. Sang giai đoạn dựa vào năng suất, vai trò của đổi mới sáng tạo tăng lên 20–30%. Đến giai đoạn cao hơn, năng suất và đổi mới sáng tạo gần như ngang bằng nhau. Điều đó cho thấy: theo đuổi tăng trưởng cao bằng cách quay lại mở rộng quy mô là đi ngược logic phát triển.
Trong giai đoạn tăng trưởng dựa trên năng suất, thị trường là công cụ duy nhất có thể nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Nhà nước không thể làm thay vai trò này. Ngay cả khi bước sang giai đoạn khoa học – công nghệ, vai trò của Nhà nước vẫn là kiến tạo và thúc đẩy, trên nền tảng nguyên tắc thị trường.
Động lực nào cho tăng trưởng?
Theo ông Trần Đình Thiên, điểm khác biệt căn bản của bối cảnh hiện nay là cấu trúc và chất lượng của nền kinh tế đã thay đổi. Một thay đổi có tính xoay trục trong tư duy phát triển là cách nhìn về khu vực kinh tế tư nhân. Nếu trước đây, tư nhân chủ yếu được xem như một nguồn lực cần huy động, thì nay được đặt vào vị trí động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, đặc biệt trong đổi mới sáng tạo. Tăng trưởng phải dựa vào khu vực tư nhân, nơi nền tảng vận hành là thị trường, cạnh tranh và năng động. Khi lực lượng này được trao niềm tin và không gian phát triển thực chất, sức bật của nền kinh tế mới có thể bung ra.
Động lực tăng trưởng không còn được nhìn như những nguồn lực để huy động và phân bổ, mà là các lực lượng tạo ra chuyển động, đổi mới và sức bật. Khu vực tư nhân, từ chỗ từng bị xem là vai phụ, nay được đặt vào vị trí trung tâm của động lực tăng trưởng và đổi mới sáng tạo.
Mô hình công nghiệp hóa cũng không còn dựa vào gia công, lắp ráp và lao động giá rẻ, mà chuyển sang công nghệ cao, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và tri thức. Hạ tầng được tiếp cận như một hệ thống đồng bộ, kết nối các vùng, khơi thông các “mạch” tăng trưởng và tạo niềm tin để vốn tư nhân chảy mạnh hơn vào nền kinh tế. Những thay đổi này mở ra một logic phát triển mới, khác căn bản so với 40 năm trước.
Tuy nhiên, tất cả những điều đó chỉ có thể phát huy nếu cải cách thể chế được thực hiện thực chất. Chuyên gia Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh quan điểm mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã thổi vào cuộc cải cách thể chế như yêu cầu từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý theo kết quả, phân cấp gắn với trách nhiệm và phân định mạch lạc vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế.
Trên thực tế, những chuyển động cải cách theo hướng tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực – hiệu quả và ban hành các nghị quyết đặc thù cho các địa phương, đô thị lớn đang mở ra không gian phát triển mới và tạo nền tảng thể chế cần thiết cho các mục tiêu tăng trưởng cao hơn.
Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng 10% không nên được hiểu như một mệnh lệnh phải đạt bằng mọi giá. Nó nên được nhìn như một quỹ đạo phát triển có điều kiện. Nếu mục tiêu này tạo áp lực tích cực để cải cách thể chế, nâng cao năng suất, mở rộng sức mua xã hội và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thì đó là một lựa chọn đúng và đáng khích lệ. Ngược lại, nếu 10% chỉ trở thành lý do để quay lại tăng trưởng theo chiều rộng, đẩy mạnh đầu tư và tín dụng trong khi thể chế không theo kịp, thì rủi ro sẽ rất lớn.
Cuối cùng, câu hỏi quan trọng nhất không phải là Việt Nam có đạt được con số 10% hay không, mà là: chúng ta có dám thay đổi cách làm để xứng đáng với con số ấy hay không. Nếu trả lời được câu hỏi đó, tăng trưởng cao sẽ có ý nghĩa. Nếu không, mọi con số đều trở nên mong manh.
Về các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026 - 2030
- Về kinh tế: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đạt trên 50%.
Tổng tích luỹ tài sản khoảng 35 - 36% GDP; tỉ trọng tiêu dùng cuối cùng khoảng 61 - 62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP, trong đó tỉ lệ đầu tư công chiếm 20 - 22%. Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP.Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.