Nhịp đập công nghệ

Đổi mới mô hình tôm - rừng, ĐBSCL hướng kinh tế giảm phát thải bền vững

Văn Kim Khanh 27/01/2026 06:30

Khoa học sinh thái, hợp tác quốc tế GIZ (Hợp tác 3 bên Đức - Thụy Sĩ và Việt Nam về môi trường ) và thực tiễn nông hộ đang thúc đẩy mô hình tôm - rừng kết hợp cua biển ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phát triển bền vững, hiệu quả.

nuoi tôm 8
Vuông tôm Cà Mau dưới tán rừng - Ảnh: Internet

Cơ sở khoa học và tính thích ứng của mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp

Mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp là hệ thống canh tác hài hòa giữa nuôi trồng thủy sản và bảo tồn rừng ngập mặn. Trong mô hình này, tôm và cua biển được nuôi dưới tán rừng với tỷ lệ che phủ rừng duy trì từ 50–60% tổng diện tích, phần còn lại là hệ thống mương nước phục vụ sinh trưởng tự nhiên của thủy sản. Cách bố trí này giúp tận dụng tối đa các quá trình sinh học tự nhiên, giảm phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp, hóa chất và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.

Về cơ sở khoa học, rừng ngập mặn đóng vai trò trung tâm trong việc điều hòa vi khí hậu, ổn định nhiệt độ và độ mặn của nước – những yếu tố then chốt đối với sự sinh trưởng của tôm và cua. Hệ sinh thái rừng còn cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên phong phú, đồng thời có khả năng hấp thụ và lưu trữ lượng lớn carbon, góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Chính từ những lợi thế đó, mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp từ dự án GIZ được xem là một dạng nông nghiệp sinh thái điển hình, phù hợp với chiến lược tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế phát thải thấp tại ĐBSCL.

nuoi tôm 5 new
Thi công cống xả thu hoạch tôm - Ảnh: B.C.M

Trên nền tảng khoa học và thực tiễn này, Dự án “Cải thiện hệ thống tuần hoàn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản bền vững”, do Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển CHLB Đức tài trợ, đã được Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) phối hợp với Trường Đại học Cần Thơ triển khai tại ĐBSCL. Dự án tập trung nghiên cứu, hoàn thiện và nhân rộng mô hình nuôi tôm – rừng theo hướng hữu cơ, coi đây là giải pháp quan trọng nhằm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

1 anh
Ông Ngô Thanh Hiền, xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau - người nuôi tôm rừng theo Mô hình của GIZ - Ảnh: V.K.K chụp lại

Nhân vật điển hình và giá trị kinh tế – xã hội từ mô hình thực tiễn

Thực tiễn triển khai mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp tại Cà Mau cho thấy những kết quả tích cực cả về kinh tế lẫn xã hội. Ông Ngô Thanh Hiền, xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, là một trong những hộ nuôi tiêu biểu tham gia áp dụng mô hình trong khuôn khổ dự án. Gia đình ông hiện có 4 ha đất nuôi tôm rừng kết hợp với cua biển.

Trước khi tham gia dự án, hoạt động nuôi tôm của gia đình ông Hiền chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, hiệu quả sản xuất chưa ổn định và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Việc thiếu công cụ theo dõi môi trường và quy trình kỹ thuật bài bản khiến rủi ro trong sản xuất vẫn ở mức cao.

Từ khi tham gia dự án, ông Hiền nhận được sự đồng hành chặt chẽ của cán bộ GIZ, Chi cục Thủy sản địa phương và các chuyên gia của Trường Đại học Cần Thơ. Các hoạt động hỗ trợ tập trung vào hướng dẫn kiểm tra, theo dõi chất lượng nước; ủ và sử dụng men vi sinh; lựa chọn tôm giống phù hợp; cũng như thực hành kỹ thuật ương tôm giống trong ao ương trước khi thả ra vuông nuôi chính.

Theo ông Hiền, sự thay đổi lớn nhất không chỉ nằm ở việc áp dụng các kỹ thuật mới mà còn ở tư duy canh tác. Người nuôi chuyển từ cách làm bị động, phụ thuộc vào tự nhiên sang chủ động quản lý hệ sinh thái vuông nuôi, coi rừng – nước – thủy sản là một thể thống nhất.

Kết quả thực tế cho thấy tỷ lệ sống của tôm tăng rõ rệt, sản lượng được cải thiện so với trước đây. Chất lượng môi trường trong vuông nuôi ổn định hơn nhờ việc bổ sung vi sinh và quản lý hiệu quả hệ thống cống cấp – thoát nước. Đặc biệt, sản phẩm tôm nuôi từ mô hình đã đạt được các chứng nhận quốc tế như EU Organic và ASC, mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường xuất khẩu cao cấp.

nuoi tôm rưng 4
Công việc chăm sóc vuông tôm của vợ chồng ông Hiền - Ảnh: V.K.K chụp lại

Với 4 ha đất nuôi tôm rừng xen lẫn nuôi cua biển, mỗi năm gia đình ông Hiền thu hoạch từ 700–900 kg tôm và 600- 700 kg cua biển. Ngoài ra, thu nhập từ việc bán cá tự nhiên trong vuông nuôi cũng mang lại gần 100 triệu đồng mỗi năm. Tổng thu nhập trung bình từ 4 ha đạt khoảng 450–600 triệu đồng; sau khi trừ chi phí, lợi nhuận còn lại dao động từ 350–500 triệu đồng. Số tiền lợi nhuận dao động tùy vào vụ tôm trúng mùa hay không và giá thời điểm khai thác. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp theo hướng hữu cơ.

nuoi tôm 3
Tôm - rừng - Ảnh: T.L

Thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển bền vững mô hình tôm – rừng kết hợp

Một trong những thuận lợi nổi bật của mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp với cua biển là tính ổn định sinh thái cao. Cấu trúc vuông nuôi được thiết kế hài hòa giữa diện tích rừng và mặt nước, giúp giảm biến động môi trường, hạn chế dịch bệnh và nâng cao khả năng chống chịu trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc áp dụng kỹ thuật ương dưỡng tôm giống từ 10–15 ngày trước khi thả nuôi đại trà giúp tôm thích nghi tốt hơn với điều kiện môi trường, tăng tỷ lệ sống và giảm rủi ro trong quá trình nuôi.

Về mặt môi trường, mô hình tôm – rừng kết hợp nuôi cua biển hữu cơ mang lại nhiều giá trị vượt trội so với các hình thức nuôi thâm canh. Việc hạn chế sử dụng thức ăn công nghiệp, hóa chất và kháng sinh không chỉ giúp giảm phát thải gián tiếp mà còn bảo vệ chất lượng nước, đất và đa dạng sinh học vùng ven biển. Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong vuông nuôi hoạt động như một “bộ lọc sinh học” tự nhiên, góp phần làm sạch nước và tái tạo nguồn dinh dưỡng.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp cũng đối mặt với không ít khó khăn. Năng suất tôm thường thấp hơn so với mô hình nuôi thâm canh do giới hạn mật độ nuôi và sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Điều này khiến một bộ phận nông hộ còn e ngại chuyển đổi, nhất là trong bối cảnh áp lực thu nhập ngắn hạn vẫn lớn.

Ngoài ra, việc quản lý hệ sinh thái vuông nuôi đòi hỏi người nuôi phải có kiến thức và kỹ năng về môi trường, thủy văn và sinh học. Thực tế cho thấy nhiều hộ nuôi vẫn thiếu công cụ theo dõi chất lượng nước và chưa tiếp cận đầy đủ các tiến bộ kỹ thuật. Chi phí để đạt các chứng nhận quốc tế như EU Organic hay ASC cũng là rào cản đối với các hộ nhỏ lẻ nếu không có sự hỗ trợ từ dự án hoặc doanh nghiệp liên kết.

Để mô hình nuôi tôm – rừng kết hợp phát triển bền vững và được nhân rộng tại ĐBSCL, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trong đó, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, nâng cao năng lực cho nông hộ, hỗ trợ tiếp cận thị trường và xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích các mô hình phát thải thấp là những giải pháp then chốt. Đồng thời, vai trò của hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ tiếp tục là động lực quan trọng, giúp đưa các mô hình nuôi sinh thái trở thành trụ cột của nền nông nghiệp bền vững và kinh tế xanh tại ĐBSCL trong dài hạn.

Văn Kim Khanh