Hà Nội bỏ tư duy cơi nới
Hà Nội những năm gần đây phát triển rất nhanh, nhưng sống trong thành phố này ngày càng nặng nề: Ra đường là bụi, mưa xuống là ngập, cao điểm là tắc. Tìm chỗ học cho con, tìm bệnh viện cho bố mẹ ngày một khó.
Tầm nhìn trăm năm
Những sự cố lặp lại đủ nhiều thì không còn được coi là bất thường, mà dần trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị.
Tiến sát mốc 9 triệu dân, Hà Nội đang chạm tới giới hạn của cách phát triển cũ, nơi tốc độ đô thị hóa đã vượt quá sức chịu đựng của hạ tầng, môi trường và chất lượng sống. Trong nhiều năm, thành phố quen với cách xử lý vá víu: tắc ở đâu thì mở đường ở đó, ngập chỗ nào thì cải tạo cống rãnh chỗ ấy.
Những giải pháp này chỉ giải quyết phần trước mắt. Mỗi lần xử lý xong một điểm nghẽn, lại thấy điểm nghẽn khác xuất hiện. Hà Nội từ gốc rễ vẫn là một đô thị phát triển theo kiểu phình to vào cùng một lõi, quá nhiều chức năng - ở, làm việc, học tập, chữa bệnh - tiếp tục bị dồn nén trong không gian nội đô lịch sử vốn đã quá tải.
Khi cả tấm áo đã đầy những mảnh vá, Hà Nội buộc phải nghĩ đến chuyện đổi hướng phát triển không gian, thay vì tiếp tục dồn nén vào lõi đô thị.
Việc Hà Nội thông qua đề án Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn dài hạn, cùng đề xuất di dời hơn 860.000 người dân khỏi khu vực nội đô (từ Vành đai 3 trở vào), chính là lối thoát. Đây là tầm nhìn dài hơi và nỗ lực chủ động thiết kế lại cấu trúc đô thị cho nhiều thập niên phát triển.

Tư duy này không dừng ở định hướng hay ý tưởng. Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065, vừa được phê duyệt theo Quyết định 1668 của Phó thủ tướng Trần Hồng Hà, đã chính thức hóa mô hình phát triển vùng đô thị, đa cực, đa trung tâm, với 5 vùng đô thị trên toàn bộ địa giới hành chính Thủ đô.
Trong cấu trúc này, có ít nhất 3 vùng đô thị được định hướng hình thành thành phố, nổi bật là khu vực phía Bắc (Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn) và khu vực phía tây (Hòa Lạc - Xuân Mai - Sơn Tây).
Đồng thời, quy hoạch cũng đặt rõ yêu cầu di dời các cơ sở gây ô nhiễm, trụ sở cơ quan, trường đại học khỏi nội đô, sử dụng quỹ đất sau di dời cho không gian công cộng, hạ tầng xã hội và cây xanh.
Tư duy thế kỷ, sinh kế hằng ngày
Con số 860.000 người đủ lớn để gây tranh luận. Nhưng nếu chỉ nhìn đây như một chương trình giãn dân, sẽ là chưa đủ. Điều Hà Nội đang hướng tới là chấp nhận “giải nén” khu vực trung tâm, tạo dư địa cho bảo tồn di sản, phát triển không gian công cộng, đồng thời mở ra các cực tăng trưởng mới. Đó là chiều hướng hoàn toàn đối lập với việc tiếp tục dồn thêm dân cư và chức năng vào lõi đô thị cũ.
Đằng sau quyết định này là một cách nghĩ khác về đô thị. Thay vì để toàn bộ nhịp sống kinh tế - xã hội xoay quanh một trung tâm duy nhất, Hà Nội bắt đầu hình dung về một đô thị đa cực, đa trung tâm, nơi không gian phát triển được phân bổ lại theo các trục mới.
Trong mô hình đó, khu vực nội đô lịch sử sẽ dần được tái định vị. Vai trò cư trú đông đúc được giảm xuống, nhường chỗ cho các chức năng văn hóa, hành chính, dịch vụ chất lượng cao và không gian công cộng.
Phố cổ, phố cũ, hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây - những không gian vốn bị vỡ vụn trong xung đột giữa bảo tồn và sinh kế - có cơ hội được “thở”, được trả lại đúng giá trị của một đô thị di sản.
Các khu vực như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc… không còn là “vùng ven” hay nơi tiếp nhận tái định cư, mà được định vị là những thành phố mới, nơi không chỉ để ở, mà để sống và làm việc, với hệ sinh thái đầy đủ từ hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế đến việc làm và dịch vụ. Khi nơi ở gắn với nơi làm việc và dịch vụ công, áp lực dồn ngược về nội đô sẽ giảm đi một cách tự nhiên.
Tuy nhiên, giãn dân chỉ có ý nghĩa khi người dân được chuyển tới những không gian sống tốt hơn, chứ không phải sự dịch chuyển cưỡng bức. Ở đây, chính sách đền bù giữ vai trò quyết định. Muốn tạo được đồng thuận xã hội, Hà Nội cần tiệm cận cơ chế đền bù theo giá thị trường, phản ánh đúng giá trị tài sản và sinh kế mà người dân đang có.
Khi người dân cảm thấy mình được đối xử công bằng, có đủ nguồn lực để tái thiết cuộc sống ở nơi ở mới, thì giãn dân mới thực sự trở thành một cơ hội, thay vì một sự hy sinh đơn phương.
Ở góc độ kỹ thuật, hạ tầng giao thông công cộng, đặc biệt là metro và đường sắt đô thị, là điều kiện không thể thiếu. Metro không giải quyết được tất cả, nhưng nếu không có metro, Hà Nội khó thoát khỏi sự lệ thuộc vào phương tiện cá nhân, và việc phát triển các đô thị bên ngoài cũng khó thành công. Thực tế cho thấy, khi có lựa chọn đủ tốt, người dân sẵn sàng thay đổi thói quen đi lại. Metro chính là “xương sống” để một đô thị đa trung tâm vận hành trơn tru.
Nói cho công bằng, Hà Nội những năm gần đây đang cho thấy một tinh thần khác. Chính quyền và đội ngũ lãnh đạo mới của thành phố thể hiện sự quyết liệt rõ ràng hơn, nhất là ở những việc vốn rất khó và dễ gây va chạm như giải phóng mặt bằng, tháo gỡ các dự án hạ tầng ách tắc nhiều năm.
Dĩ nhiên, một cuộc “đại phẫu” đô thị sẽ không tránh khỏi thách thức. Đồng thuận xã hội, nguồn lực đầu tư, năng lực thực thi và quản trị đô thị đa trung tâm đều là những bài toán không dễ.
Hà Nội có thể chọn không làm gì cả, nhưng cái giá sẽ không rẻ. Nếu tiếp tục né thay đổi, Hà Nội sẽ còn mắc kẹt dài trong vòng luẩn quẩn quá tải - vá víu - tái quá tải, với chi phí xã hội và môi trường ngày càng lớn.
Ở nghĩa đó, tầm nhìn dài hạn cho Hà Nội không phải chuyện xa xôi, mà là điều kiện cần để tạo thêm năng lượng phát triển và không gian phát triển mới cho Thủ đô. Cuộc cách mạng đô thị lần này, nếu được làm kiên định đến cùng, sẽ giúp Hà Nội trở thành một Thủ đô đáng sống theo đúng nghĩa của nó.