Thời sự

Tưởng nhớ ông Đoàn Duy Thành

Trần Thị Trường 12/02/2026 08:00

Tôi biết đến ông Đoàn Duy Thành và những người trong gia đình ông nguyên do bởi văn hóa nghệ thuật đặc biệt là âm nhạc. Các con ông người nào cũng mê âm nhạc.

Con ông Đoàn Duy Thành, có người còn giúp chúng tôi (tôi, Trần Tiến, Ngọc Tân, Duy Thái, Nguyễn Ngọc Anh...) kinh phí để tổ chức những đêm diễn âm nhạc tại Hải Phòng, dù họ cũng chẳng phải giầu có gì. Họ có đông bạn bè, tất cả xúm lại, mỗi người mỗi việc, thế là sân khấu thành phố thi thoảng lại sáng đèn. Những năm đầu thập kỷ 90 trước đây việc đó là hiếm lắm. Cứ bảo người đất Cảng ăn sóng nói gió, thực ra phải nói: người đất Cảng chân thành, nhiệt tình hết mình, mạnh mẽ, tận tình và vô tư dến đáy.

Từ chỗ quen biết và nhận được sự giúp đỡ chân thành từ các con ông mà tôi chú ý đến ông. Hồi đó ông đã thôi không còn giữ chức vụ gì, đã rời Hải Phòng về ở Đội Cấn Bà Đình Hà Nội, nhưng người dân Hải Phòng vẫn nhắc đến ông với lòng kính trọng và sự trìu mến. Họ kể về phong cách sống của ông, về một người lãnh đạo yêu Đảng bao nhiêu thì thương dân bấy nhiêu. Một quan chức có bản lĩnh và lối sống chân thành, một người đẻ lại dấu ấn lớn cho vùng đất Cảng… Các con ông cũng sống như bất kỳ cán bộ công chức nào, không ra vẻ “cậu ấm, con nhà”, đặc biệt là giàu chất nghệ.

*

Là một nhà văn, tôi rất quan tâm đến những con người thuộc giới chính trị xã hội, và ông Đoàn Duy Thành là một “nhân vật” rất thú vị, rất đáng kính trọng trong mắt tôi. Ai cũng nhớ, những câu chuyện thời hậu chiến (1975-1986), cười ra nước mắt… Người dân Hải Phòng kể nhiều về ông. Cũng có lần tôi được gặp ông. Được đọc bản thảo cuốn sách của ông. Và trong cuộc trò chuyện đó tôi nhận thấy ông lớn lao, tài giỏi, độc đáo nhưng cũng có đôi lúc day dứt và cô đơn.

Ông Đoàn Duy Thành
Ông Đoàn Duy Thành.

Ông luôn thể hiện rõ rằng người làm lãnh đạo luôn phải lựa chọn giữa nhiều phương án, mà mỗi phương án đều có hệ quả xã hội. Những quyết định về xuất nhập khẩu, điều hành kinh tế đối ngoại hay mở rộng giao thương quốc tế thời kỳ đầu Đổi mới đều nằm trong vùng “không có tiền lệ”. Ông nhìn nhận quyền lực không phải đặc quyền mà là gánh nặng đạo đức. Những trang viết của ông gần với tự kiểm điểm hơn là tự thuật, kể công. Ông hiểu rõ về giới hạn của hoàn cảnh lịch sử. Nhiều lần ông nhấn mạnh bối cảnh khách quan của giai đoạn cuối thập niên 1980: Kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh; Hệ thống quản lý cũ bộc lộ hạn chế; Đổi mới là yêu cầu tất yếu nhưng mô hình chưa có sẵn.

Tôi thấy ông nhận thức lịch sử rất sắc bén và hiểu cái giới hạn đang có: cá nhân có vai trò, nhưng luôn bị đặt trong mạng lưới hoàn cảnh. Tư tưởng về sự khác biệt quan điểm trong điều hành Những trang viết hay trong câu chuyện của ông cũng gợi ra thực tế rằng quá trình hoạch định chính sách thường chứa đựng tranh luận nội bộ. Nhưng ông không chê trách ai mà thiên về tự sự, muốn diễn giải quy luật phát triển tư duy quản lý theo một lôgic tự nhiên. Chính vì thế nên tôi thấy ông cực kỳ tài giỏi và sống rất nhân văn. Dường như ông nỗ lực đối thoại với hoàn cảnh lịch sử và cố gắng tìm ra giả thuyết cho sự thay đổi quy luật phát triển. Tôi nhìn thấy ở ông với góc độ chân dung văn học, một hình tượng khá đặc biệt: một người từng ở vị trí quyền lực nhưng lại chọn cách ghi chép đời mình bằng giọng trầm, tiết chế và nhiều suy ngẫm nội tâm.

Những người cùng công tác với ông kể rằng, trong đời sống công vụ, ông thuộc mẫu cán bộ trưởng thành từ thực tiễn, quen với môi trường quản lý kinh tế và thương mại. Còn trong cuốn sách viết khi ông đã rời chức vụ, ông chuyển sang vai trò người kể chuyện lịch sử, với tâm thế của một người từng đi qua nhiều bước ngoặt lớn. Ở đó có ba nét nổi bật: Sự thẳng thắn. Khả năng diễn đạt tốt, dễ hiểu và tránh lối văn “khẩu hiệu”. Ông nói về những khó khăn, cả những điều còn day dứt. Sự thẳng thắn này tạo cảm giác gần gũi với người nghe, và cảm nhận rằng ông không đứng ở vị trí làm lãnh đạo, chính trị xuông. Ông có chiều sâu nội tâm và có cá tính, rất con người…

Những trang viết của ông không có giọng điệu tranh biện gay gắt hay tự khẳng định quá mức về bản thân. Văn phong thiên về hồi tưởng và chiêm nghiệm, giống giọng kể của một người đã bước ra khỏi trung tâm quyền lực để nhìn lại quá khứ. Ông không chỉ kể lại sự kiện mà thường đặt câu hỏi về lựa chọn của mình và của cả một thế hệ lãnh đạo.

Quyền lực thường gắn với khả năng quyết định số phận chính sách, thậm chí ảnh hưởng đến đời sống hàng triệu người. Ông cho rằng là một người có vị trí- quyền lực luôn phải giữ được sự trung thực, tỉnh táo và trách nhiệm. Từ trải nghiệm của ông, quyền lực không làm cuộc sống dễ dàng hơn mà khiến những lựa chọn trở nên nặng nề hơn. Những người thuộc thế hệ lãnh đạo thời hậu chiến phải đối diện với nhiệm vụ chuyển đổi mô hình phát triển quốc gia. Thành công hay hạn chế của giai đoạn đó đều trở thành đối tượng đánh giá của lịch sử. Triết lý “làm người khó lắm” vì thế gợi lên nhận thức rằng mỗi cá nhân trong guồng máy lịch sử luôn phải chấp nhận sự phán xét của thời gian. Sau khi rời vị trí lãnh đạo, ông sống lặng lẽ, dành thời gian viết sách

Tôi nghĩ cuộc đời Đoàn Duy Thành có thể được nhìn như hình ảnh thu nhỏ của một thế hệ cán bộ Việt Nam trưởng thành trong chiến tranh, bước vào quản lý đất nước trong thời kỳ hòa bình nhưng đầy thử thách kinh tế. Những trang viết của ông, xét về phương diện tư liệu, góp phần giúp hiểu rõ hơn quá trình hình thành tư duy Đổi mới. Nhưng xét ở phương diện nhân văn, giá trị lớn hơn nằm ở việc nó đặt ra câu hỏi đạo đức: con người phải sống như thế nào khi đứng giữa trách nhiệm cá nhân và sự vận động lịch sử.

Nhìn lại cuộc đời Đoàn Duy Thành, điều đọng lại không chỉ là các chức vụ ông từng đảm nhiệm, mà là tâm thế suy ngẫm sau khi rời chính trường. Từ trải nghiệm cá nhân, ông để lại một triết lý giản dị mà sâu sắc: con người càng đi qua nhiều biến động lịch sử càng hiểu rằng làm người là hành trình khó khăn nhất, bởi nó đòi hỏi không chỉ năng lực mà còn là bản lĩnh đạo đức và sự trung thực với chính mình.

*

Trong lịch sử quản lý kinh tế Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XX, ông Đoàn Duy Thành là một nhân vật thuộc thế hệ lãnh đạo bước qua hai thời kỳ rất khác nhau: thời chiến tranh và thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Con đường công tác của ông đi từ thực tiễn địa phương – Hải Phòng, một đô thị công nghiệp, thương cảng lớn – đến trung ương với cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại thương rồi Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách kinh tế đối ngoại. Nhưng điều khiến nhiều người nhớ đến ông không chỉ là chức vụ, mà còn là những suy ngẫm ông để lại sau khi rời chính trường, đặc biệt qua những trang viết, nơi ông bộc lộ một triết lý giản dị mà ám ảnh về giá trị làm người. Những trang viết của ông không phải là dạng tự sự công trạng mà là những suy tư và tự vấn. Ông nhìn lại giai đoạn đất nước chuyển từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường như một quá trình vừa thử nghiệm vừa đầy rủi ro. Ở đó nổi lên ba lớp tư tưởng đáng chú ý. Tư tưởng về trách nhiệm cá nhân trong bộ máy quyền lực Ông thể hiện rõ cảm nhận rằng người làm lãnh đạo luôn phải lựa chọn giữa nhiều phương án, mà mỗi phương án đều có hệ quả xã hội. Những quyết định về xuất nhập khẩu, điều hành kinh tế đối ngoại hay mở rộng giao thương quốc tế thời kỳ đầu Đổi mới đều nằm trong vùng “không có tiền lệ”. Từ trải nghiệm đó, ông nhìn nhận quyền lực không phải đặc quyền mà là gánh nặng đạo đức. Những trang viết có thể không được phổ biến ở một giai đoạn nào đấy, nhưng, như bất kỳ một bản thảo nào, nó là tiếng nói của nỗi lòng một người, nó luôn có giá trị với chính người đó, với thân nhân và có thể có giá trị lịch sử…

*

Bây giờ chúng ta đã hiểu câu không nên “hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế”. Nhưng thời điểm ông Đoàn Duy Thành thì cụm từ này còn rất mới, rất nhạy cảm. Nhưng nhờ sự kiên trì, thẳng thắn, trực diện và chân thành nên đất nước đã bước vào Đổi mới, doanh nhân đã dám làm ăn, dám sáng tạo xã hội đã phát triển.( Khi Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu chấm dứt hình sự hóa các quan hệ kinh tế, chúng ta đã thấy: những điều hôm nay ta đang nói ông Thành đã trăn trở từ ba mươi năm trước…

Ông Đoàn Duy Thành được đánh giá là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của Việt Nam trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ từ thời kỳ hậu chiến sang công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với tinh thần tận tụy, thực tiễn, sâu sát đời sống nhân dân và đặc biệt là tư duy năng động trong lĩnh vực kinh tế – đối ngoại. Ông sinh ra trong một gia đình lao động bình dị. Từ những năm tháng tuổi trẻ, ông đã sớm tham gia hoạt động cách mạng, trải qua nhiều thử thách của thời kỳ đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Những trải nghiệm từ thực tiễn cơ sở giúp ông hình thành phong cách làm việc thẳng thắn, quyết đoán nhưng gần gũi, luôn coi trọng hiệu quả và lợi ích thiết thực cho nhân dân. Trong quá trình công tác, ông trưởng thành từ các vị trí lãnh đạo địa phương, đặc biệt gắn bó sâu sắc với thành phố Hải Phòng – một trung tâm kinh tế, cảng biển quan trọng của miền Bắc. Khi đảm nhiệm các cương vị lãnh đạo tại đây, ông được ghi nhận là người có tư duy đổi mới, quan tâm phát triển sản xuất, thương mại và đời sống đô thị. Ông chú trọng khơi dậy tiềm năng kinh tế của thành phố cảng, thúc đẩy các hoạt động giao thương và cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài của Hải Phòng sau này. Từ thực tiễn lãnh đạo địa phương, ông được Trung ương tin tưởng giao nhiều trọng trách quan trọng ở cấp quốc gia. Ông từng giữ cương vị Bộ trưởng Ngoại thương, sau đó là Phó Thủ tướng Chính phủ. Trong các vị trí này, ông đóng vai trò tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn đất nước bắt đầu từng bước hội nhập với khu vực và thế giới.

Ông từng giữ nhiều cương vị quan trọng như:

• Ủy viên Trung ương Đảng khóa V, VI

• Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Nay gọi là Chính phủ)

• Bộ trưởng Ngoại thương

• Chủ tịch UBND và Bí thư Thành ủy Hải Phòng

• Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Ông được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cùng nhiều phần thưởng cao quý

*

Ông sinh 15.09.1929. Qua đời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 lúc 6 giờ 43 phút ngày 6.02.2026 thọ 97 tuổi (do tuổi cao sức yếu.)

Tang lễ sẽ được tổ chức theo nghi thức cấp Nhà nước. Ban Lễ tang Nhà nước gồm 25 thành viên, do Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình làm Trưởng ban. Vào 9 giờ ngày 12.2.2026 (tại Nhà tang lễ Quốc gia).

Trần Thị Trường