Thời sự

Tư tưởng Hồ Chí Minh trong hành trình phát triển khoa học và công nghệ

AnhTú 15/02/2026 15:06

Tư tưởng Hồ Chí Minh coi khoa học, kỹ thuật, công nghệ là khâu có vai trò then chốt trong việc thúc đẩy lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và bảo đảm phát triển bền vững.

Tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng định hướng phát triển khoa học Việt Nam

Hành trình từng bước hình thành hệ thống thể chế, đội ngũ và chiến lược phát triển KH&CN vững mạnh không chỉ phản ánh trí tuệ của dân tộc Việt Nam, mà còn là minh chứng sinh động cho sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại đổi mới sáng tạo hôm nay.

Ngay từ những năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của tri thức, kỹ thuật và con người trong sự nghiệp kiến quốc. Tư tưởng của Người về khoa học được hệ thống hóa thành năm nội dung cốt lõi:

Thứ nhất, Người khẳng định phải đẩy mạnh nghiên cứu và phổ biến tri thức khoa học kỹ thuật trong nhân dân. Tuyên truyền, phổ biến tri thức không chỉ để thỏa mãn quyền lợi căn bản của người dân là được hưởng thụ những thành quả của khoa học, để lao động trí óc gắn chặt với lao động chân tay, để tri thức khoa học, kỹ thuật được ứng dụng trong thực tiễn, mà sâu xa hơn là để tạo điều kiện nâng cao dân trí, phát huy trí tuệ của nhân dân, để các tầng lớp nhân dân có điều kiện tham gia đổi mới, sáng tạo, phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ.

Thứ hai, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam (tháng 5/1963), Người căn dặn: “Hội còn có nhiệm vụ dạy bảo các cháu thiếu niên về khoa học, kỹ thuật, làm cho các cháu ngay từ thuở nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học”. Người nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống các trường đại học và trường trung học chuyên nghiệp và có sự “phối hợp chặt chẽ với các ngành, các địa phương, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, tập trung cũng như tại chức”, nhằm đào tạo lực lượng khoa học, kỹ thuật chuyên nghiệp.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực khoa học, kỹ thuật thông qua giáo dục, đào tạo và trọng dụng nhân tài. Ngoài việc trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực khoa học, kỹ thuật của chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trọng dụng các trí thức tài năng, đức độ mà chế độ cũ để lại, đặc biệt là coi trọng việc thu hút lực lượng trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

hcm4.jpg
"Nền tảng phát triển công nghệ phải dựa trên sự cần thiết cho thị trường trong nước, trước hết là thị trường của nông dân, và dựa trên phạm vi của cải của ta"

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trách nhiệm của Nhà nước thể hiện ở việc hoạch định chiến lược phát triển đất nước, ở việc lập và tổ chức triển khai những kế hoạch cụ thể nhằm từng bước phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Người nhấn mạnh: “Kế hoạch không nên sụt lại sau, nhưng cũng không nên chạy quá trước sự phát triển của công nghệ, không nên xa rời nông nghiệp, không nên quên lãng sức tiết kiệm của ta. Nền tảng phát triển công nghệ phải dựa trên sự cần thiết cho thị trường trong nước, trước hết là thị trường của nông dân, và dựa trên phạm vi của cải của ta. Đó là nền tảng để liên hệ công nghệ với kinh tế của nông dân”.

Cuối cùng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh hợp tác quốc tế về khoa học – kỹ thuật trên nguyên tắc tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Ngay từ giữa thập niên 40 của thế kỷ XX, Người đã đặt vấn đề mời các chuyên gia khoa học, giáo dục nước ngoài sang Việt Nam làm việc và mở các cơ quan khoa học nước ngoài ở Việt Nam. Theo tinh thần đó, Tạm ước Việt - Pháp (ngày 14/9/1946) ghi rõ: “Những trường học Pháp các cấp sẽ được tự do mở trên đất Việt Nam. Những trường ấy sẽ theo chương trình học chính thức của Pháp”. Người nhấn mạnh, cần “mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”.

Năm trụ cột ấy đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt mọi chặng đường chính sách và pháp luật của Việt Nam về KH&CN – từ những sắc lệnh đầu tiên năm 1945 đến các chiến lược đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên 4.0.

Tư tưởng Hồ Chí Minh trong dòng chảy chính sách khoa học Việt Nam

Ngay sau ngày độc lập, Sắc lệnh số 43A/SL (19/12/1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập Ủy ban Khoa học Kỹ thuật, cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên về KH&CN. Đây chính là sự thể chế hóa đầu tiên tư tưởng “đưa khoa học phục vụ nhân dân”.

Tiếp đó, Luật về Khoa học và Phát huy Kỹ thuật (1959) đặt nền pháp lý cho việc gắn khoa học với sản xuất và kháng chiến, phản ánh tư tưởng Hồ Chí Minh về “khoa học vì dân, vì nước”.

Đến Nghị quyết 37/NQ-TW (1979), Bộ Chính trị xác định KH&CN là lực lượng sản xuất trực tiếp, khẳng định vai trò trung tâm của tri thức trong giai đoạn hậu chiến.

Khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới (1986–2010), tinh thần “tự chủ và sáng tạo” trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rõ qua Nghị quyết 26/NQ-TW (1993) và Luật KH&CN năm 2000, đặt nền tảng cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nghị quyết 20/NQ-TW (2012) tiếp tục khẳng định KH&CN là động lực quan trọng nhất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Bước sang giai đoạn hội nhập và chuyển đổi số, Luật KH&CN (sửa đổi 2013) đã mở rộng cơ chế tự chủ, phát triển thị trường KH&CN – đúng tinh thần “khoa học là của dân, do dân và vì dân”.

Chỉ thị 16/CT-TTg (2017) và Nghị quyết 52-NQ/TW (2019) khẳng định quyết tâm chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đưa Việt Nam hòa nhịp cùng thế giới công nghệ cao.

Đặc biệt, Chiến lược phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 (2022) đã đặt KH&CN vào trung tâm của mô hình tăng trưởng quốc gia, với mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia đổi mới sáng tạo hàng đầu Đông Nam Á – sự hiện thực hóa trọn vẹn tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển dựa trên tri thức và con người.

Nếu các văn kiện trước đây tập trung vào thể chế, thị trường và chiến lược công nghệ, thì Nghị quyết 57-NQ/TW (cuối năm 2024) của Bộ Chính trị đã mang ý nghĩa bản lề và thời sự nhất, khi đặt con người – đặc biệt là đội ngũ trí thức, nhà khoa học – vào vị trí trung tâm của mọi tiến bộ KH&CN.

Đây chính là sự khẳng định sâu sắc nhất tinh thần Hồ Chí Minh: “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Dưới ánh sáng ấy, Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ nói về nguồn nhân lực, mà còn nói về sức mạnh tinh thần, đạo đức và trách nhiệm xã hội của người trí thức – yếu tố quyết định cho thành công của đổi mới sáng tạo quốc gia.

Khát vọng “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không... Và muốn mọi cái đều “hơn” thì chúng ta phải coi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới.

Tổng bí thư Tô Lâm

AnhTú