Tản văn của Nguyễn Bảo Chân: ‘Một bóng Hà Nội’
Họa sĩ Đào Hải Phong hẹn đạo diễn Đặng Nhật Minh đến quán cà phê quen trên phố. Anh Phong và ông Minh là bạn vong niên. Tôi chơi với anh Phong, nên thỉnh thoảng cũng được gọi tới ngồi cùng. Quán có khung cửa kính rộng như một khuôn hình điện ảnh, nhìn ra con phố đặc sệt Hà Nội…
Ký ức về căn biệt thự “chia năm xẻ bảy”
Vài người bán hoa, bán hàng rong thỉnh thoảng đi qua đi lại. Bên kia đường là ngôi biệt thự kiểu Pháp xây từ đầu thế kỷ trước, dẫu bị cơi nới thay đổi vẫn nhận ra những hàng hiên, những cửa sổ tròn và ô thoáng hoa văn kỷ hà chạy dọc bức tường tróc lở. Ngôi biệt thự gợi nhớ một Hà Nội trong phim “Mùa ổi” mà ông Đặng Nhật Minh làm biên kịch kiêm đạo diễn. Tôi cùng anh Phong ký tặng ông tập thơ “Bóng của Ý Nghĩ” của tôi, vì anh Phong góp tranh bìa và minh hoạ. Ba chú cháu rôm rả bàn về phim ảnh, về “thời sự văn nghệ”.
Ông Minh kể: “Mấy năm trước, chú đi nói chuyện tại một trường đại học. Có bạn hỏi: Thưa thầy, làm thế nào để nhận biết một phim nghệ thuật? Chú trả lời, đơn giản thế này, phim nghệ thuật là phim khi xem, các em cảm động. Nghệ thuật luôn làm người ta cảm động”. Phim“Mùa ổi” của đạo diễn Đặng Nhật Minh là câu chuyện về một người đàn ông trung niên nhưng tâm trí mãi dừng lại tuổi 13 sau tai nạn thời niên thiếu. Người đàn ông ấy luôn sống trong ký ức về ngôi nhà thơ ấu, hình bóng một Hà Nội xưa đã khuất vắng từ bao giờ. Bộ phim rưng rưng chạm đến tâm trí tôi, nơi tôi cất giữ một bóng Hà Nội của riêng mình.
Nhà ông bà ngoại tôi nằm cuối phố Bà Triệu. Một phần tuổi thơ tôi ở đó. Căn biệt thự ba tầng đã “chia năm xẻ bảy” cho các hộ gia đình, nhưng còn phảng phất vẻ thanh tao quá vãng. Những khung cửa gỗ sơn màu xanh lá nổi bật trên tường vôi vàng sẫm nhuốm rêu phong. Những cánh cửa khẽ kêu cọt kẹt mỗi lần đóng mở, nghe như chúng đang cố nén tiếng thở dài. Cầu thang lát đá granito màu ngọc, tay vịn lim nâu bóng uốn lượn quanh ba chiếu nghỉ rộng, nơi có những ô tròn chớp mắt háo hức hứng ánh sáng và gió mát lịm lùa vào; nơi lũ con gái bé hay bắc ghế chơi đồ hàng.
Ông bà tôi ở một phòng tầng dưới, cạnh hành lang dẫn xuống sân sau. Ngay đầu hành lang, bà tận dụng không gian, để cái gạc-măng-giê (garde-manger) – cái chạn khung gỗ, vách lưới thép, chứa đồ ăn thức đựng. Căn phòng rộng, xưa có lẽ là phòng khách lớn của ngôi biệt thự, giờ được ngăn đôi bằng tấm bình phong tre ngà lâu năm lên nước óng ả. Phía ngoài kê chiếc phản lim nhẵn bóng. Ban ngày ông tôi hay ngồi đó đọc sách, hút thuốc lào, uống trà, tiếp khách, đêm thì ngả lưng. Mấy bà cháu ngủ phía trong, trên chiếc giường đen bóng, đối diện vài ba cái rương và một cái tủ cao chót vót. Chiếc bàn bán nguyệt, ông gọi là cái “công-son” (console) bằng gỗ trắc, đặt áp bức tường giữa nhà, phía trên treo một tấm gương lớn, khung gỗ trạm trổ tinh xảo. Chiếc đồng hồ báo thức bằng đồng hiệu Jaz của Pháp để trên bàn, kêu tích tắc suốt ngày đêm. Mặt đồng hồ to hơn cái bát, vòng chữ số to tướng. Khi năm tuổi, tôi bắt đầu biết nhận mặt chữ và số. Tôi được bà dạy xem giờ từ chiếc đồng hồ ấy.
Lớn lên cùng chiếc lá, bông hoa trong sân nhà
Trên mảnh sân trước nhà có cây sấu to, do chính tay bà tôi trồng từ hồi mẹ tôi và các dì các cậu còn bé. Nó lớn nhanh vùn vụt, cành lá sum suê, nhưng đậu ít quả. Bà gọi nó là “Sấu Ngố”. Khi tôi bắt đầu biết đi, thì nó đã cao vút tận tầng ba của ngôi nhà. Mỗi mùa hè, thỉnh thoảng người lớn trèo lên sân thượng, lấy sào tre buộc cái giỏ ở đầu, khua khua cho sấu rụng lọt vào giỏ. Lũ trẻ đứng dưới nghển cổ ngóng quả rơi xuống lộp bộp, thi nhau nhặt.
Hàng rào bê-tông bao lấy ngôi nhà, có mấy thanh gẫy từ thời chiến tranh, nhô cả cốt thép ra. Lõi thép được bẻ quặt lại thành những cái móc treo làn, treo giỏ. Có cây móng rồng tươi tốt, đến mùa trổ hoa xanh rồi chuyển vàng hanh hảnh, phảng phất mùi ổi chín. Cành lá leo quấn quýt, dệt tấm khăn thơm tho điệu đàng quàng lên cái hàng rào cũ kỹ, che đi những “vết thương” của nó. Nơi ấy, bà tôi mở một quán chè chén nhỏ, thêm đồng ra đồng vào nuôi mấy đứa cháu nội ngoại. Lỗ hổng trên hàng rào do những thanh bê-tông gãy tạo ra, trở thành “ghi-sê” (guichet) để bà tôi “giao dịch” với khách hàng. Tôi và con mèo đen Lê-La thích chui qua cái “ghi-sê” ấy tọt ra vỉa hè.
Vỉa hè những năm xưa, trong con mắt đứa trẻ hiếu kỳ là tôi, sao rộng thênh thang. Hàng xà cừ lừng lững, toả bóng hai bên đường. Trời trở gió, lá xao xác rụng. Tôi nhặt những chiếc lá to làm con nghé ọ. Phải xé ngang hai góc phía trên phiến lá, bẻ gập xuống thành đầu nghé với hai cái tai cong cong, rồi lấy dây cước buộc vào cuống lá, giật giật cái dây là nghé gật gù “nghé ọ, nghé ọ!”. Bà tôi kể, năm bom Mỹ bắn phá, mẹ chưa kịp đón tôi đi sơ tán, bà cuống cuồng ôm tôi nhảy xuống hầm. Tôi ba tuổi, nhìn ánh lửa sáng loà trời đêm, ngơ ngác hỏi: “Bà ơi, cái gì thế hở bà?”. Bà thì thào: “Người ta bắn pháo hoa đấy!” và ôm chặt tôi vào lòng. Mãi sau này, lớn lên tôi mới hiểu, bà tôi đã ôm đứa cháu gái bé bỏng đi qua nỗi sợ chiến tranh bằng cách ấy.
Tôi cứ thế lớn lên cùng chiếc lá, bông hoa trong sân nhà ông bà ngoại. Ông tôi mất năm 1976. Sau đó vài năm, bà tôi bán nhà, dọn về cuối phố Lò Đúc ở cùng cô Dung tôi. Rồi bà cũng theo ông. Nhiều năm sau, qua phố Bà Triệu, tôi vẫn nhìn thấy bóng bà tôi, như trong một câu thơ tôi viết: “Mỗi sớm nắng lên/mỗi lần vụt xe qua nhoi nhói xưa/bóng bà ngoại bên hàng rào hoa móng rồng/ướp hương trưa hè, tóc trần mắt ướt/ru thầm cái nắng lên ba…”.
Năm 2013, trong một lần dọn nhà, mẹ tôi tìm thấy chiếc đồng hồ Jaz của ông bà. Nó đã “chết” từ lâu lắm. Tôi xin mẹ chiếc đồng hồ, rồi mang lên một cửa hàng ở phố Hàng Phèn, thử xem có “cứu” được không. Người thợ cầm đồng hồ lật qua lật lại, nghiêng ngó hồi lâu, rồi bảo: “Đồng hồ cả trăm tuổi rồi, bây giờ muốn nó chạy phải chế một số bộ phận. Cô cứ để đây, nếu sửa được tôi sẽ gọi”. Hơn nửa năm, tôi nhận tin nhắn từ Hàng Phèn. Bác thợ có tâm đã kiên nhẫn tìm mọi cách cứu chiếc đồng hồ của ông bà tôi. Nhận lại đồng hồ, tôi mừng mừng tủi tủi, rơm rớm nước mắt. Nó kêu tích tắc, như có một trái tim đang đập. Thật kỳ diệu, nó đã sống sau mấy thập kỷ im lặng! Nó mang hình bóng một quá khứ sinh động, đang thở bên tôi. Tôi gặp lại ông bà, cha mẹ, gặp lại những người thân… Tôi gặp lại chính mình, nơi này hay chốn cũ.
Ông Đặng Nhật Minh nói: “Nghệ thuật luôn làm người ta cảm động”, hẳn thế! Nhưng nghệ thuật, dẫu bằng bất cứ lối nào cũng chỉ diễn tả được một phần rất nhỏ của cuộc sống. Bóng Hà Nội trong phim của ông Minh và trong ký ức của tôi, giống đấy, mà khác đấy. Tôi không sống mãi trong ký ức. Ký ức cùng tôi lớn lên, cùng tôi đi qua nhiều con đường trưởng thành. Có những điều vĩnh viễn ngủ yên, nhưng cũng có những điều bỗng một ngày tỉnh thức, giúp ta nhận ra chính mình rõ ràng hơn bao giờ hết. Tôi lên giây cót chiếc đồng hồ cổ, học cách trân quý mọi khoảnh khắc cuộc đời. Và chiếc đồng hồ của ông bà tôi vẫn đang tích tắc cùng tôi mỗi ngày.