PGS-TS Phạm Quang Long bàn về văn hóa trong thế giới phẳng
Dù vẫn còn những quan niệm khác nhau nhưng phải thừa nhận quá trình “toàn cầu hóa”, “hội nhập và phát triển” đã làm thay đổi thế giới. Dù muốn hay không thì cuộc “chơi lớn” này bắt buộc mỗi quốc gia phải soát xét lại chính mình để bước vào cuộc chơi ấy.
Văn hóa trong thế giới phẳng
Chưa bao giờ câu nói không có tình bạn vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn lại trở thành thực tiễn hằng ngày trên phạm vi toàn thế giới như ngày nay. Ở đây không bàn đến các vấn đề kinh tế, chính trị hay các quan hệ quốc tế mà chỉ nói đến vấn đề văn hóa - một lĩnh vực tưởng chừng không quan trọng lắm đối với những chuyện lớn lao, cấp bách như chiến tranh, xung đột, cấm vận, trừng phạt, thiên tai, dịch bệnh - và cũng chỉ bàn đến một khía cạnh rất nhỏ là thế giới cần gì cho ta và ta đóng góp được gì cho nhân loại trong lĩnh vực văn hóa trong thời đại hội nhập sâu rộng này.
Khi xuất hiện khái niệm thế giới phẳng, người ta hiểu rằng không có quốc gia nào có thể biệt lập với quá trình chung của nhân loại. Văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc bây giờ không chỉ còn là của riêng họ hay nói cho chính xác hơn, nó không thuần túy là diện mạo tinh thần của riêng quốc gia, dân tộc, cộng đồng nữa; vì chưa bao giờ sự giao thoa, cộng sinh, thỏa hiệp lại nổi trội như hiện nay.

Một nhà nghiên cứu văn hóa Đức đã than rằng văn hóa Hồi giáo, văn hóa Trung Quốc trước đây ở Đức chỉ được biết đến trong sách vở, bây giờ hiện diện ngay trong đời sống Đức, ở những cộng đồng người nhập cư. Nó sống trong đời sống của một quốc gia vốn khá rạch ròi và khó tính với những gì là của mình, thuộc mình và những gì không phải là mình.
Ở ta, theo thông tin từ báo chí, có khoảng trên dưới nửa triệu người quốc tịch nước ngoài (chủ yếu là người châu Á nhưng cũng có công dân các nước Âu, Mỹ) sống ở các đô thị lớn. Họ là thương nhân, doanh nhân, công nhân, giáo viên, sinh viên, nhà khoa học... chứ không phải người nước ngoài thuộc các tổ chức quốc tế. Họ sinh sống ở nước ta như những người vừa bình thường, vừa khác thường. Họ trở thành một phần của cộng đồng xã hội, có cả những đóng góp lẫn những hậu quả xã hội mà chúng ta phải giải quyết.
Đó là chưa kể một số không nhỏ người Việt làm cho các công ty nước ngoài như những công dân toàn cầu. Họ là người Việt, sống trong nước Việt nhưng công việc và tư cách công chức của họ bị chi phối bởi các công ty và luật pháp nước ngoài. Là công dân Việt nhưng họ sống theo chuẩn mực công việc và yêu cầu pháp lý của nước khác.
Nhìn vào thực trạng nền văn hóa nước nhà hiện nay, không thể không nhận thấy điều này: chủ trương đầu tư cho văn hóa như nền tảng tinh thần của xã hội, như động lực và mục tiêu phát triển là đúng hướng. Nhưng xét về bản chất, chúng ta vẫn đánh giá văn hóa từ góc nhìn chức năng chứ không phải từ bản thể của nó.
Do những thôi thúc của hoàn cảnh lịch sử, một thời gian rất dài nhà nước đã loại khỏi đời sống văn hóa những yếu tố không phù hợp với quan niệm mác-xít; chỉ ủng hộ và phát triển những yếu tố tương thích với hệ tư tưởng mác-xít, trong khi văn hóa - nói như Lênin - bao giờ cũng những xu hướng, yếu tố “dân chủ, xã hội chủ nghĩa” và cả những yếu tố ngoài tư tưởng này.
Nói thì dài nhưng chỉ cần đưa ra mấy dẫn chứng sau đây thì thấy có giai đoạn, ta đã loại bỏ khỏi văn hóa dân tộc những yếu tố của chính mình như văn hóa phong kiến, văn hóa tư sản, cải lương, vọng cổ (thời chống Pháp), bolero v.v... mà quên mất rằng nội dung văn hóa vừa có cái liên tục, vừa mất đi, vừa sinh thành và hệ giá trị văn hóa chúng ta đang xây dựng có nhiều yếu tố được hình thành, xây dựng, giữ gìn từ ngàn đời nay như giá trị con người, gia đình, cộng đồng, làng xã, quốc gia, dân tộc.
Cái giá trị chúng ta có thể góp vào cho nhân loại vừa là những yếu tố nội sinh, vừa có những yếu tố ngoại nhập được bản địa hóa, biến thành một phần của văn hóa dân tộc. Nếu chỉ khư khư bảo vệ cái gọi là bản sắc của mình đến mức cực đoan thì chúng ta sẽ đánh mất những cơ hội tiếp cận với nhân loại.
Bản chất văn hóa là cộng sinh
Trở lại với vấn đề cốt lõi của văn hóa là con người. Bản chất văn hóa là cộng sinh, tiếp biến, dung hòa, lựa chọn và đào thải như một quá trình. Nếu chỉ nhìn nó từ góc nhìn tư tưởng hệ sẽ tước bỏ mất nhiều tinh hoa của nhân loại rất cần cho mình.
Tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái mà nhân loại đề cao là sản phẩm của cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, nhưng nó cũng không chỉ là sản phẩm của nước Pháp. Hồ Chí Minh khi viết Tuyên ngôn độc lập cũng đã nói tới điều này như là thành tựu vĩ đại của nhân loại và như quyền của mọi dân tộc, con người.
Hồ Chí Minh khi đưa ra tư tưởng đại đoàn kết để tập hợp lực lượng giành và giữ độc lập đã nói đến tư tưởng Tổ quốc trên hết, đã đặt quyền lợi Tổ quốc, nhân dân, dân tộc lên trên mọi quyền lợi của giai cấp, đảng phái. Vì vậy Hồ Chí Minh thành công và trở thành biểu tượng của tinh thần đoàn kết vì cái chung.
Nếu chúng ta đánh giá con người không từ nhân cách văn hóa, từ tinh thần tự do, dân chủ, từ ý thức công dân và năng lực cống hiến cho xã hội; mà chỉ từ lý lịch chính trị, bằng cấp chính trị thì đã tước bỏ đi nhiều yếu tố tích cực khác làm nên con người bản thể.

Không hiểu văn hóa và chủ thể tạo nên văn hóa là con người thì mọi chính sách từ đào tạo đến sử dụng và đãi ngộ khó có thể phát huy hết tác dụng, vì như thế không khác gì người ta đã nói chính sách trên trời, cuộc đời dưới đất.
Lấy một ví dụ nữa để chứng minh: khi Pháp thấy nguy cơ các thanh niên Đông Dương muốn sang Pháp học tập quá đông, sợ họ sẽ tiếp nhận những tư tưởng tiến bộ của nước Pháp nên toàn quyền Đông Dương làm tờ trình xin mở Đại học Đông Dương nhằm ngăn chặn thanh niên thuộc địa có cơ hội tiếp cận nước Pháp tiến bộ.
Như sự trớ trêu của lịch sử, phần lớn những thanh niên được Pháp đào tạo ở Đại học Đông Dương nhằm phục vụ cho chính quyền thực dân lại trở thành những hạt nhân trong các phong trào xã hội chống Pháp, nhiều người sau này trở thành những người cộng sản.
Như vậy, những gì thuộc về tinh hoa nhân loại phải được tạo điều kiện để nảy nở trong lòng xã hội Việt Nam, trở thành yếu tố nội sinh cho văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới. Đành rằng trong quá trình ấy sẽ có những rơi rụng nhưng cái được vẫn lớn hơn nhiều.
Nếu chúng ta chủ động đến với thế giới, sẽ thấy thế giới ở trong ta và ta cần làm gì để ta cũng là một phần của thế giới tiến bộ, văn minh, hợp tác và hữu nghị.

PGS-TS Phạm Quang Long nhận bằng Tiến sĩ Văn học tại Đại học tổng hợp Leningrad (Liên Xô cũ) năm 1984 và được công nhận Phó giáo sư năm 1996. Ông nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), Giám đốc Sở VH-TT-DL Hà Nội.
Sự nghiệp văn chương của ông nở rộ sau khi nghỉ hưu với hàng loạt tiểu thuyết, kịch bản văn học như Bạn bè một thuở, Lạc giữa cõi người, Cuộc cờ, Chuyện làng, Mùa rươi, Chuyện phố, Trưởng tộc... và nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, văn học.