Văn hóa - Đời sống

Nguyễn Bính: Nhà thơ sinh và mất năm Ngọ, tài hoa nhưng đường đời nhiều trắc trở

Nhà thơ Nguyễn Sỹ Đại 20/02/2026 8:00

Nguyễn Bính là nhà thơ thân yêu của nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam. Ông sinh ngày mùng 3 Tết năm Mậu Ngọ tức 13.2.1918; theo tử vi có mệnh Thiên thượng hỏa, tính cách thẳng thắn, có tài nhưng cô đơn, đường đời nhiều trắc trở.

Tôi không tin tử vi nhưng có lẽ Nguyễn Bính thì có, vì ông từng viết về cuộc đời mình, tự lấy cho mình một lá số trong một bài thơ gửi chị Trúc: Em vốn đường dài thân ngựa lẻ/Chị thời sông cái chiếc đò nan.

Và dường như ông cũng dự báo trước cái chết của mình vào năm Bính Ngọ 1966: Đừng về Chiêm quốc nhé, Huyền Trân/Ta viết thơ này gửi cố nhân/Năm mới tháng giêng mồng một tết/Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân…/Giờ đây chín vạn bông trời nở/Riêng có tình ta khép lại thôi! (Nhạc xuân, 1940).

1434361941-vmtonguyen_binh_tl_iwee.jpg.webp
Chân dung nhà thơ Nguyễn Bính

Chí lớn không thành

Nguyễn Bính mang tráng khí của một Kinh Kha mơ nghiệp lớn Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo/Ta trói thân vào nợ nước mây (Hành Phương Nam) và cũng như Kinh Kha ôm mối hận dài. Cả cái chết của ông cũng thật buồn.

Khoảng năm 1958, sau vụ Trăm hoa, Nguyễn Bính về quê hẳn, làm cán bộ Ty Văn hóa Nam Định, viết thơ tuyên truyền và biên tập văn nghệ. Hồi đó có Đông y sĩ Đỗ Văn Hứa, làm thơ với bút danh Tân Thanh, Nguyễn Bính coi như em.

Con gái ông, nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu kể: “Chú Tân Thanh có tên tục là ông lang Hứa, chú làm nghề đông y, thích làm thơ và nhất là rất yêu thơ Nguyễn Bính. Gia đình chú có nghề buôn bán cây thuốc lâu đời, thời đó đã xuất khẩu thuốc bán ra nước ngoài, gia đình thuộc loại khấm khá. Gia đình chú cũng quý cha tôi như người anh lớn trong nhà. Dạo ấy là những ngày tháng chạp, cha tôi từ bệnh viện nơi sơ tán về ghé lại nhà chú Tân Thanh nghỉ dưỡng cũng có hơn mươi ngày. Một hôm cha tôi nói với chú Tân Thanh:

- Chú Hứa này, anh đã coi số tử vi, năm nay anh chết đấy, nếu may qua được năm nay thì anh sống thêm được chục năm nữa!

Chú Tân Thanh gắt:

- Vớ vẩn, chết gì mà chết, tử vi với tử vẩn, anh cứ nói huyên thuyên!

… Khoảng 25-27 tết cha tôi đem chiếc xe đạp hiệu Phượng Hoàng ra kỳ cọ sửa sang để chuẩn bị về Nam Định ăn tết. Thấy vậy thím Tân Thanh (bà Sang) mới bảo:

- Bác ở lại ăn tết với vợ chồng chúng em, sức khỏe bác ốm yếu như vậy, đường sá gập ghềnh lỏm chỏm đá to đá nhỏ, ổ gà ổ voi không khéo ngã thì có chết!

Cha tôi nói:

- Cô không sợ anh chết ở đây à?

- Chúng em chẳng sợ gì cả, chết thế nào được! Bác cứ ở lại đây ăn tết cùng gia đình chúng em có dưa ăn dưa có muối ăn muối.

Chú Tân Thanh nghe vợ nói, cũng hăng hái góp lời:

- Cô ấy nói phải đấy! Bác cứ ở lại ăn tết với chúng em, khi nào khỏe hẳn rồi hãy về, chúng em không buộc.

Thế là cha tôi đồng ý ở lại với gia đình chú Tân Thanh để ăn thêm cái tết xa nhà, không ngờ đó lại là một “Xuân tha hương” vĩnh viễn… của cha tôi ở nơi cũng tạm gọi là đất khách.

Vào khoảng 8 giờ sáng, ngày 20 tháng 1 năm 1966 nhằm ngày 29 tháng chạp âm lịch (tết năm ấy không có ngày 30), tại nhà chú Tân Thanh ở xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, cha tôi đã trút hơi thở cuối cùng”. Theo nhiều người kể lại, ông chết vì bị ngã xuống ao, chưa kịp ăn bữa nào của cái tết Bính Ngọ…

Hai giai đoạn sáng tác, trước và sau cách mạng

Cũng theo lời chị Hồng Cầu, Nguyễn Bính có nhiều người đàn bà, nhưng không ai đem lại cho ông hạnh phúc trọn vẹn. Ông đương nhiên là sống trong nghèo khổ, phiêu bạt cả một đời, không có chức sắc, địa vị nào đáng kể. Thơ ông ngun ngút những thất bại, thất tình.

Trước cách mạng, ông tổng kết đời mình: “Nợ thế chưa trả tròn một món/Sòng đời thua đến trắng hai tay/Quê nhà xa lắc, xa lơ đó/Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay” (Hành phương nam); “Từ em lưu lạc ngoài muôn dặm/Một đoạn đường đi một đoạn trường/Cửa quan chẳng mở, đầu Viên bạc/Tri kỷ không ai, mắt Tịch cuồng(Xuân vẫn tha hương- Gửi chị Trúc)

Rồi đời Nguyễn Bính bừng sáng lên cùng cách mạng. Tráng chí của ông gặp Nam Bộ kháng chiến, liền đầu quân thành Anh Bộ đội Cụ Hồ. Năm 1948, ông viết bài thơ Cửu Long Giang đăng trên báo Tổ quốc, được anh bộ đội Nguyễn Hữu Trí, Phó ban Quân nhạc của Ban Tuyên huấn Khu 8 phổ thành bài hát Tiểu đoàn 307 đầy hùng khí, vang vọng đến hôm nay.

Nguyễn Bính vốn đằm thắm tình quê, càng đằm thắm hơn khi trở lại quê nhà sau ngày tập kết, sau những ròng rã ở báo Trăm hoa. Thơ ca của ông thời kỳ này vừa nói lên tình cảm Bắc Nam, đấu tranh thống nhất mà ông có nhiều phần máu thịt – vợ con đang ở miền Nam; vừa là tiếng ca xây dựng CNXH ở miền Bắc.

Thư một bức nghìn lời tâm huyết

Đêm canh dài thức viết cho em.

Bồi hồi máu ứ trong tim

Chảy theo ngòi bút hiện lên thư này

(Gửi vợ miền Nam)

Trong luỹ tre xanh vui mùa hợp tác,

Mái ngói nhô lên như những nụ hoa hồng.

Chung ruộng, chung trâu, chung lòng, chung sức

Chung con đường gặt lấy ấm no chung.

(Bài thơ quê hương)

Nguyễn Bính có hai giai đoạn sáng tác, trước và sau cách mạng. Nếu nhìn bề ngoài, ở những biểu hiện hình thức, thì thơ Nguyễn Bính trước cách mạng tài hoa hơn, có sự hấp dẫn của chất lãng tử đa tình. Tuy vậy, thơ Nguyễn Bính sau cách mạng có chất đời hơn, thực hơn, sâu lắng hơn trong những vần thơ giản dị. Lá thấp cành cao gió đuổi nhau/ Góc vườn rụng vội chiếc mo cau/ Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác/ Đàn kiến trường chinh tự thuở nào (Chiều thu) là một quan sát tinh tế mà gợi nhớ vô bờ những kỷ niệm tuổi thơ, thức dậy một tình yêu vĩnh cửu đối với mỗi góc sân, góc vườn xóm nhỏ.

Và đó là tình yêu nước. Quê hương tôi có ca dao tục ngữ/Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi/Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ/Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi/Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất/“Cuốc cuốc” kêu rỏ máu những đêm vàng/Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc/Theo người đi cứu nước chống xâm lăng (Bài thơ quê hương) là một khái quát cao và dạt dào cảm xúc, ngợi ca những đạo lý, hào hùng sử thi.

Thời tuổi trẻ, tôi thích những câu thơ của Trường huyện, của Những bóng người trên sân ga. Nhưng càng ngày, tôi càng yêu những câu thơ viết về quê hương, về làng Việt của Nguyễn Bính. Và tôi chắc chắn rằng, ông là người viết về quê hương làng cảnh hay nhất trong các nhà thơ Việt Nam. Mà hay nhất là viết về mùa xuân. Trong các bài thơ về mùa xuân, hay nhất là Mưa xuân. Trong Mưa Xuân, hay nhất là khổ thứ hai:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,

Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay.

Nguyễn Bính không nhìn vào cái trước mắt, cái có thể thay đổi. Nguyễn Bính thấy được và hướng vào sự không thay đổi. Đó là cái đẹp phơi phới của lòng người làm phơi phới đến từng sợi mưa xuân; cái tưng bừng, rộn rã của những hội chèo làng xa vọng đến làng gần, đời mẹ vọng đến đời con. Là cái sự hy vọng, cái niềm yêu sống bất tuyệt!

Thơ Nguyễn Bính gieo vào ta điều ấy, giữ cho ta cái tình nguồn cội, cái lòng yêu nước sâu xa; yêu và gìn giữ từng cánh hoa xoan, từng dây trầu quấn quýt như tình nghĩa xóm thôn; của đất trời nước Việt không nơi nào có được. Nếu xa nó ta trở thành kẻ tha hương.

Nhà thơ Nguyễn Sỹ Đại
Nhà thơ Nguyễn Sỹ Đại

Nhà thơ Nguyễn Sỹ Đại, quê ở Hà Tĩnh, là tiến sĩ Văn học, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phóng viên Cao cấp Báo Nhân Dân. Các tác phẩm tiêu biểu đã xuất bản: Nơi em về, Trái tim người lính, Dưới sắc cờ và trời thu Hà Nội… (thơ); Một số đặc trưng của thơ tứ tuyệt đời Đường, Nguyễn Bính - hồn dân tộc sáng bừng trên giấy điệp (Nghiên cứu, phê bình); Khoảng trời con gái, Chim trắng thiêng, Bình minh đỏ (kịch).

* Tựa bài đã được đặt lại, tựa gốc "Đường dài thân ngựa lẻ" của tác giả Nguyễn Sỹ Đại đăng trên đặc san Xuân Bính Ngọ 2026 của Tạp chí Một Thế Giới.

Nhà thơ Nguyễn Sỹ Đại