Nhịp đập công nghệ

Chuyển đổi số nông nghiệp ở ĐBSCL: Thích ứng để phát triển bền vững

Văn Kim Khanh 01/03/2026 05:24

Chuyển đổi số (CĐS) đang mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp Việt Nam, nâng cao năng suất, giảm chi phí, minh bạch thị trường và tăng khả năng thích ứng biến đổi khí hậu.

OCOP 10
Chuyển đổi số và hiện đại hóa nền nông nghiệp đó là mục tiêu của Đảng và Nhà nước - Ảnh: T.L

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực đoan, nông nghiệp Việt Nam – đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – đứng trước yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc theo hướng bền vững và thông minh hơn. Từ xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài đến biến động thị trường toàn cầu, những yếu tố này đang đặt ra bài toán vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa duy trì giá trị gia tăng cho nông sản. Trong tiến trình đó, chuyển đổi số (CĐS) được xem là trụ cột quan trọng, tạo nền tảng cho mô hình nông nghiệp dựa trên dữ liệu.

Nền tảng dữ liệu – chìa khóa của chuỗi giá trị

Theo TS. Nguyễn Văn Hòa – Đại học Cần Thơ, chuyên gia về nông nghiệp thông minh, điểm cốt lõi của chuyển đổi số không nằm ở thiết bị mà ở khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu. Khi dữ liệu được liên thông giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, toàn bộ chuỗi giá trị vận hành hiệu quả và minh bạch hơn. Ông nhấn mạnh, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành hàng là điều kiện tiên quyết để dự báo cung – cầu, hạn chế tình trạng “được mùa rớt giá” vốn kéo dài nhiều năm qua.

Việc hình thành hệ sinh thái dữ liệu số cho phép quản lý sản xuất theo thời gian thực, phân tích xu hướng thị trường và điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp. Trong bối cảnh thị trường nông sản biến động nhanh, năng lực phân tích dữ liệu lớn (Big Data) giúp cơ quan quản lý và doanh nghiệp chủ động hơn trong điều tiết sản lượng, giảm thiểu rủi ro dư thừa cục bộ.

Một trong những trụ cột của CĐS là truy xuất nguồn gốc và minh bạch hóa thông tin sản phẩm. Thị trường xuất khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, phát thải carbon và trách nhiệm môi trường. Việc ứng dụng mã QR, blockchain và hệ thống quản lý vùng trồng giúp kiểm soát quy trình sản xuất từ đồng ruộng đến bàn ăn.

Thông qua số hóa nhật ký canh tác, dữ liệu về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và điều kiện môi trường được lưu trữ minh bạch, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và đối tác quốc tế. Đây là yếu tố quan trọng để nông sản Việt Nam nâng cao giá trị và gia nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Song song với sản xuất, thương mại điện tử cũng góp phần tái cấu trúc kênh phân phối. Các sàn giao dịch số rút ngắn khâu trung gian, kết nối trực tiếp nông dân với doanh nghiệp và người tiêu dùng. Ứng dụng nền tảng số trong quản lý đơn hàng, logistics và thanh toán điện tử giúp giảm chi phí và gia tăng tính linh hoạt của chuỗi cung ứng.

cds NN 1
Chuyển đổi số giúp giám sát môi trường tốt hơn trước biến đổi khí hậu -Ảnh: T.L

Giám sát số môi trường ruộng lúa ĐBSCL

Tại ĐBSCL, nơi chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, CĐS trong giám sát môi trường ruộng lúa đang cho thấy hiệu quả rõ rệt. Ứng dụng IoT, dữ liệu thời gian thực và phân tích thông minh giúp nông dân quản lý canh tác chính xác, giảm chi phí đầu vào và nâng cao năng suất.

Theo nghiên cứu “CĐS giám sát môi trường giúp nhà nông ĐBSCL canh tác lúa chính xác và bền vững”, việc tích hợp công nghệ IoT và nền tảng dữ liệu đã tạo ra hệ thống giám sát môi trường ruộng lúa theo thời gian thực, hỗ trợ ra quyết định trong từng giai đoạn sản xuất.

Hệ thống cảm biến được lắp đặt trực tiếp trên ruộng có khả năng theo dõi liên tục nhiệt độ, độ ẩm không khí, pH đất, độ mặn, mực nước và lượng mưa. Dữ liệu được truyền qua mạng không dây về trung tâm xử lý và hiển thị trên nền tảng số, cho phép người nông dân giám sát bằng điện thoại thông minh.

TS. Trương Minh Thái, Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông - Đại học Cần Thơ, cho biết CĐS giúp nông dân tiếp cận dữ liệu môi trường theo thời gian thực, từ đó quản lý canh tác chính xác hơn thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Theo ông, dữ liệu chính xác là nền tảng để tối ưu lượng nước tưới, phân bón và thời điểm chăm sóc.

Khi các chỉ số môi trường biến động bất thường, hệ thống có thể phát cảnh báo sớm. Ví dụ, khi độ mặn tăng cao, nông dân được khuyến nghị hạn chế lấy nước; khi pH đất giảm hoặc độ ẩm vượt ngưỡng, nền tảng đề xuất điều chỉnh lượng phân bón và mực nước phù hợp. Nhờ đó, rủi ro thiệt hại do điều kiện bất lợi được giảm đáng kể.

PGS-TS. Nguyễn Khởi Nghĩa, Trường Nông nghiệp - Đại học Cần Thơ, nhận định: Dữ liệu môi trường thu thập liên tục là nền tảng quan trọng để xây dựng mô hình canh tác lúa bền vững, nâng cao khả năng thích ứng biến đổi khí hậu.

KHCN 7
Từng bước hiện đại hóa nông nghiệp ĐBSCL - Ảnh: V.K.K

Phân tích và dự báo thông minh

Giá trị cốt lõi của CĐS không chỉ nằm ở giám sát mà còn ở khả năng phân tích và dự báo. Khi dữ liệu được tích lũy qua nhiều vụ mùa, các mô hình phân tích có thể xác định quy luật biến động môi trường theo từng khu vực, từ đó tối ưu lịch thời vụ.

Kết hợp với trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống có thể dự báo nguy cơ hạn – mặn, cảnh báo sớm sâu bệnh dựa trên biến động nhiệt độ và độ ẩm, hoặc đề xuất phương án canh tác phù hợp từng giai đoạn sinh trưởng. Đây là bước chuyển từ “nông nghiệp kinh nghiệm” sang “nông nghiệp dựa trên bằng chứng khoa học”.

Khi dữ liệu môi trường và nhật ký canh tác được số hóa, thông tin không chỉ phục vụ từng hộ nông dân mà còn có thể tổng hợp ở cấp hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc địa phương. Việc hình thành bản đồ dữ liệu nông nghiệp theo vùng giúp cơ quan quản lý điều hành sản xuất hiệu quả hơn, đồng thời tạo cơ sở xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn xuất khẩu.

Kỹ sư Huỳnh Quý Khang, Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông - Đại học Cần Thơ, cho rằng: Hệ thống giám sát môi trường và quản lý canh tác số không chỉ giảm chi phí đầu vào mà còn tạo dữ liệu minh bạch phục vụ truy xuất nguồn gốc và phát triển vùng lúa chất lượng cao.

NGHIEN CUU 14
Cán bộ và nông dân tham quan trình diễn mô hình sản xuất lúa theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao giảm phát thải - Ảnh: L.S

Thách thức và yêu cầu đồng bộ

Dù tiềm năng lớn, chuyển đổi số trong nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều rào cản như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạ tầng số chưa đồng đều và hạn chế về kỹ năng công nghệ. Để CĐS đi vào chiều sâu, cần có cơ chế hỗ trợ đào tạo, tài chính và xây dựng hạ tầng dữ liệu thống nhất ở quy mô quốc gia.

PGS-TS. Lý Nguyễn Bình - Đại học Cần Thơ nhấn mạnh: Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, xây dựng khung pháp lý và hạ tầng dữ liệu; doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ; còn người nông dân là trung tâm của quá trình chuyển đổi.

CĐS không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức sản xuất và quản lý. Khi mỗi quyết định canh tác dựa trên dữ liệu khoa học, nông nghiệp Việt Nam sẽ gia tăng khả năng thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bền vững trong kỷ nguyên kinh tế số.

Văn Kim Khanh