PGS Nguyễn Vũ Trung: AI ngàn tỷ sẽ "vô dụng" nếu dữ liệu là ốc đảo
PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung cảnh báo nghịch lý AI y tế ngàn tỷ sẽ thất bại, nếu không xóa bỏ "ốc đảo dữ liệu".
Đại dịch COVID-19 đi qua đã để lại một bài học đắt giá về việc khả năng phản ứng chậm trễ có thể dẫn đến những thiệt hại khổng lồ cho toàn xã hội. Đứng trước ngưỡng cửa của kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số, ngành y tế dự phòng Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mang tính sống còn, nơi mà ranh giới giữa sự an toàn và hiểm họa đôi khi chỉ nằm ở một dòng dữ liệu.

Trong cuộc đối thoại với phóng viên Một Thế Giới, PGS-TS-BS CK2 Nguyễn Vũ Trung, Viện trưởng Viện Pasteur TP.HCM, đồng thời là Đại biểu Quốc hội khóa 16, đã thẳng thắn chỉ ra nghịch lý: Nếu không tháo gỡ được những “ốc đảo dữ liệu” rời rạc, thì dù đầu tư hàng nghìn tỷ đồng vào các thuật toán AI tiên tiến, chúng ta vẫn sẽ hoàn toàn "bất lực" trong cuộc chiến bảo vệ tính mạng người dân.
-Thưa ông, nhìn lại những đại dịch đã qua, sự chậm chạp trong phản ứng thường dẫn đến những hậu quả khôn lường cho toàn xã hội. Trong nhiệm kỳ Quốc hội này, ông kỳ vọng như thế nào về việc xây dựng một hệ thống Big Data dịch tễ học đủ mạnh để AI có thể dự báo chính xác các điểm nóng trước khi chúng bùng phát?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Dưới góc độ của một người hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực y tế dự phòng tại nghị trường, tôi nhận thấy nút thắt lớn nhất hiện nay không phải là chúng ta thiếu dữ liệu, mà là chúng ta đang sở hữu những “ốc đảo dữ liệu” rời rạc, thiếu tiêu chuẩn hóa và không có khả năng liên thông để phân tích sớm. Đây chính là một nghịch lý, bởi nếu không giải quyết triệt để sự nghẽn mạch này, thì dù chúng ta có đầu tư bao nhiêu tiền vào các thuật toán AI tiên tiến, chúng cũng không thể phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ tính mạng người dân.
Theo quan điểm của tôi, hành động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới cần phải tập trung vào hai điểm cốt lõi mang tính quyết định. Trước hết là việc hoàn thiện một khung pháp lý vững chắc để dữ liệu y tế được kết nối và chia sẻ một cách an toàn tuyệt đối, đồng thời phải đầu tư có trọng tâm vào hạ tầng số và năng lực phân tích dữ liệu, đặc biệt là ưu tiên nâng cao năng lực cho tuyến y tế cơ sở vốn là nơi tiếp nhận thông tin đầu tiên.
Đi kèm với đó, công tác giám sát của Quốc hội phải được tăng cường để bảo đảm hệ thống mạng lưới này vận hành thực sự hiệu quả, phục vụ mục tiêu cảnh báo sớm cho cộng đồng. Chỉ khi nào dòng chảy dữ liệu được khơi thông một cách khoa học, chúng ta mới có thể chính thức chuyển đổi từ trạng thái ứng phó bị động, chạy theo dịch bệnh, sang khả năng chủ động kiểm soát ngay từ khi mầm mống chưa kịp bùng phát.

-Hiện nay, việc đồng bộ dữ liệu tiêm chủng và dân cư đã có những bước tiến đầu tiên. Tuy nhiên, để tiến tới một hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân nhằm cá thể hóa dự phòng, theo ông đâu là rào cản pháp lý lớn nhất cần được tháo gỡ tại Quốc hội khóa 16?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Qua quan sát thực tiễn, tôi khẳng định rào cản lớn nhất cản trở tiến trình này hoàn toàn không nằm ở năng lực công nghệ hay sự thiếu hụt về mặt dữ liệu, mà nó nằm ở sự thiếu hụt một khung pháp lý đủ mạnh để cho phép dữ liệu liên thông và khai thác hiệu quả. Thực trạng đáng lo ngại hiện nay là mỗi hệ thống y tế lại được quản lý theo một quy định riêng biệt, khiến cho lượng dữ liệu khổng lồ dù đã sẵn có vẫn vô cùng khó kết nối để định hình thành một hồ sơ sức khỏe điện tử thống nhất. Khác với hệ thống Big Data trong kiểm soát dịch tễ đòi hỏi sự chuẩn hóa, đối với hồ sơ sức khỏe cá nhân, yêu cầu mang tính cốt tử lại là việc xác lập rõ ràng quyền dữ liệu, các cơ chế chia sẻ hợp pháp cũng như trách nhiệm bảo mật thông tin ở mức cao nhất.
Chỉ khi hành lang pháp lý đủ minh bạch và mang lại sự tin cậy cho người dân lẫn các đơn vị y tế, dòng chảy dữ liệu mới thực sự xuyên suốt trong hệ thống. Đây chính là nền tảng vững chắc để chúng ta thực hiện công tác dự phòng cá thể hóa và quan trọng hơn cả là thúc đẩy sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy y tế: chuyển từ quản lý bệnh tật sang quản lý sức khỏe một cách chủ động và liên tục cho mỗi cá nhân.
-Chuyển đổi số mang lại lợi ích nhưng cũng đặt ra những rủi ro về an ninh quốc gia, đặc biệt là các kho dữ liệu về mã gen và mẫu bệnh phẩm của người Việt. Ông có đề xuất lập pháp cụ thể nào để bảo vệ những "kho báu số" nhạy cảm này?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Khi công cuộc chuyển đổi số đi vào chiều sâu, chúng ta bắt buộc phải nhìn nhận các dữ liệu về mẫu bệnh phẩm, gen và di truyền ở một vị thế hoàn toàn khác biệt: đó là tài sản gắn liền với an ninh y tế và chủ quyền dữ liệu quốc gia, tuyệt đối không thể quản lý như các loại thông tin thông thường.
Vì vậy, tôi đề xuất về mặt pháp lý, chúng ta cần xây dựng ba trụ cột bảo vệ vững chắc. Trụ cột đầu tiên là xác lập ngay địa vị pháp lý đặc thù cho các dữ liệu sinh học và di truyền, đi kèm với những quy định cực kỳ khắt khe về quyền sở hữu, phạm vi khai thác và các biện pháp kiểm soát tiếp cận thông tin. Trụ cột thứ hai là nhanh chóng thiết lập bộ tiêu chuẩn an ninh hệ thống cùng cơ chế kiểm soát truy cập nghiêm ngặt, song song với đó là một hệ thống chế tài xử lý đủ mạnh để răn đe bất kỳ hành vi vi phạm nào. Trụ cột thứ ba là ban hành quy định chặt chẽ về hoạt động hợp tác, chia sẻ dữ liệu cả trong và ngoài nước, bảo đảm nguyên tắc dữ liệu phải được khai thác hiệu quả cho khoa học nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát hoàn toàn của quốc gia. Trong khi dữ liệu dịch tễ cần kết nối để dự báo, thì đối với các “kho báu số” này, yêu cầu đặt ra là sự kết nối phải luôn đi kèm với năng lực kiểm soát và bảo vệ chủ quyền dữ liệu quốc gia một cách tuyệt đối. Đây là viên gạch nền tảng để phát triển y tế hiện đại mà vẫn bảo đảm được lợi ích chiến lược lâu dài của đất nước.

-Để giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên, việc đưa các công nghệ xét nghiệm nhanh vào danh mục bảo hiểm y tế chi trả tại vùng sâu, vùng xa là rất cần thiết. Ông có kế hoạch gì để thúc đẩy chính sách này trên nghị trường?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Giải quyết bài toán giảm tải cho bệnh viện tuyến trên phải bắt đầu từ việc đưa năng lực phát hiện sớm dịch bệnh về với y tế cơ sở, và trong tiến trình này, chính sách chi trả của Bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò then chốt không thể thay thế.
Theo quan điểm của tôi, cần phải thúc đẩy chiến lược này theo hai hướng rõ rệt. Hướng thứ nhất là mở rộng phạm vi chi trả của quỹ BHYT cho các loại xét nghiệm nhanh có giá trị cao trong việc sàng lọc sớm bệnh lý, dựa trên các bằng chứng khoa học và phân tích hiệu quả chi phí, thay vì chỉ tập trung vào giai đoạn điều trị như hiện tại. Hướng thứ hai là gắn kết chặt chẽ việc chi trả này với quá trình chuẩn hóa kỹ thuật và dữ liệu dịch tễ học toàn quốc, bảo đảm mỗi xét nghiệm tại cơ sở không chỉ đạt chuẩn y khoa mà còn góp phần vào mạng lưới giám sát dịch bệnh thống nhất. Khi BHYT chuyển dịch từ tư duy chỉ chi trả cho điều trị sang chi trả cho cả hoạt động dự phòng và phát hiện bệnh sớm, tuyến y tế cơ sở sẽ thực sự trở thành những người lính phòng ngự vững chắc, giúp giảm tải bền vững cho các bệnh viện tuyến trên.
-Các bệnh như tiểu đường, cao huyết áp đang là gánh nặng lớn. Quốc hội khóa 16 nên có nghị quyết gì để thúc đẩy việc ứng dụng các thuật toán theo dõi sức khỏe chủ động từ xa, giúp y tế dự phòng chuyển từ "chờ bệnh" sang "tầm soát chủ động", thưa ông?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Trong đối phó với nhóm bệnh không lây nhiễm, cốt lõi nằm ở khả năng phát hiện sớm và tổ chức theo dõi liên tục ngay tại cộng đồng để ngăn chặn bệnh tiến triển nặng. Theo đánh giá của tôi, chúng ta đang cần một khung chính sách toàn diện giải quyết ba vấn đề trọng tâm: hợp pháp hóa và chuẩn hóa hoạt động theo dõi sức khỏe từ xa, kết nối dữ liệu cá thể vào Big Data chung của ngành y tế, và tạo ra cơ chế tài chính minh bạch cho các hoạt động tầm soát sớm. Chỉ khi hệ thống dữ liệu được kết nối thành công và vận hành an toàn, các thuật toán công nghệ mới có thể phát huy tối đa giá trị thực tiễn trong việc giúp hệ thống chuyển hướng từ tư duy “chờ bệnh” sang dự báo các yếu tố nguy cơ và can thiệp y tế sớm, góp phần giảm thiểu gánh nặng bệnh tật cho toàn xã hội.
.png)
-Nhiều đơn vị y tế dự phòng (CDC) đang gặp khó khăn khi ứng dụng công nghệ mới do định mức chi tiêu lỗi thời. Ông nhận định thế nào về tính cấp thiết của một cơ chế tài chính đặc thù dành cho đổi mới sáng tạo trong ngành?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Tôi cho rằng gốc rễ vấn đề nằm ở phương thức tiếp cận tài chính hiện nay chưa theo kịp bản chất vận động của đổi mới sáng tạo. Ngành y tế dự phòng ngày nay dựa trên những kho dữ liệu, nền tảng công nghệ và mô hình dự báo phức tạp – những yếu tố vô hình không thể đo lường bằng các phương pháp truyền thống. Vì thế, xây dựng một cơ chế tài chính đặc thù là hết sức cần thiết, cần dịch chuyển từ mô hình quản lý chi phí sang tư duy đầu tư dựa trên hiệu quả đầu ra thiết thực.
Điều này đòi hỏi chúng ta phải cập nhật định mức linh hoạt theo sự phát triển công nghệ, mạnh dạn thí điểm các cơ chế đặt hàng và mua sắm giải pháp mới, đồng thời gia tăng quyền tự chủ đi kèm trách nhiệm giải trình minh bạch của các đơn vị thực thi. Khi cơ chế tài chính thực sự trở thành bệ phóng kiến tạo, các CDC mới có đủ năng lực để trở thành lực lượng nòng cốt dẫn dắt hệ thống y tế dự phòng hiện đại.
-Việt Nam đang đứng trước áp lực phải làm chủ các công nghệ vắc xin mới như mRNA. Là một đại biểu Quốc hội, ông sẽ ưu tiên thúc đẩy những đạo luật nào để thu hút các tập đoàn tư nhân vào lĩnh vực này?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Để làm chủ công nghệ vắc xin thế hệ mới, vấn đề then chốt là phải có thiết chế thể chế đủ mạnh để huy động khu vực tư nhân tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ lõi. Tôi cam kết ưu tiên thúc đẩy hoàn thiện hệ thống pháp luật theo đúng tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, nơi khẳng định thể chế phải đi trước một bước và dũng cảm chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo. Cụ thể, cần thiết lập cơ chế đặt hàng và chia sẻ rủi ro tài chính trong nghiên cứu công nghệ chiến lược, nơi Nhà nước dẫn dắt còn doanh nghiệp là trung tâm. Đồng thời, phải hoàn thiện quy định về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và quản trị dữ liệu để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư lẫn chủ quyền công nghệ quốc gia. Bên cạnh đó, việc áp dụng các cơ chế quản lý đặc thù theo Nghị quyết 193/2025/QH15 sẽ tạo bước đột phá trong ưu đãi cho R&D và giải phóng nguồn lực cho khối doanh nghiệp.

-Ông có dự định chất vấn về việc bắt buộc tích hợp các chỉ số y tế dự phòng số vào luật quy hoạch đô thị không?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Tư duy của tôi là chuyển đổi số và quy hoạch đô thị phải là một hệ thống chỉnh thể thống nhất, trong đó dữ liệu sức khỏe cộng đồng là một phần hạ tầng đô thị hiện đại. Điều này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 06-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW. Tôi chắc chắn sẽ đề xuất yêu cầu tích hợp các chỉ số như cảm biến môi trường, bản đồ dịch tễ thời gian thực và dữ liệu cư dân ngay từ khâu đầu tiên của quy hoạch đô thị. Dựa trên Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2024, chúng ta cần gắn kết chặt chẽ dữ liệu quy hoạch với dữ liệu sức khỏe để chuyển từ quy hoạch “tĩnh” sang quy hoạch dựa trên “dữ liệu sống”. Đây là cách duy nhất để xây dựng những đô thị không chỉ thông minh mà còn thực sự an toàn về sức khỏe cộng đồng.
-Hệ thống đang thiếu hụt đội ngũ chuyên gia giỏi cả y sinh lẫn khoa học dữ liệu. Ông sẽ đệ trình chính sách gì để thu hút những nhân tài này thay vì để họ chảy máu chất xám?
-PGS-TS-BSCK2 Nguyễn Vũ Trung: Tình trạng thiếu hụt nhân lực liên ngành không phải vì chúng ta thiếu người giỏi, mà vì thiếu cơ chế để họ yên tâm gắn bó với khu vực công. Tôi đề xuất ba mũi đột phá: Thứ nhất là cơ chế đãi ngộ đặc thù, chi trả thu nhập xứng đáng theo năng lực và sản phẩm theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Thứ hai là thiết lập mô hình làm việc linh hoạt giữa Nhà nước – Viện – Doanh nghiệp để chuyên gia không bị trói buộc bởi thủ tục hành chính. Cuối cùng, phải gắn kết thu hút nhân tài với các dự án công nghệ tầm cỡ quốc gia, tạo ra những “bài toán đủ lớn” để khơi dậy khát vọng cống hiến và giữ chân những người xuất chúng.
- Xin cảm ơn PGS Nguyễn Vũ Trung về những chia sẻ đầy tâm huyết của ông đối với vấn đề khoa học công nghệ trong công tác phòng, chống dịch bệnh. Chúc ông hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 16 này.