PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Để đại học là 'đầu tàu' dẫn dắt công nghệ lõi
Bài, đồ hoạ: Nam Phong•30/03/2026 06:40
Muốn bứt phá trong kỷ nguyên bán dẫn và AI, PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng khẳng định cần những cơ chế "đặc thù" để đại học thực sự trở thành chủ thể đổi mới sáng tạo, dẫn dắt công nghệ lõi.
Bước vào nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, Việt Nam đang đứng trước "vòng chung kết" của mục tiêu chiến lược 2030, nơi mà bán dẫn, AI và chuyển đổi số không còn là những khẩu hiệu, mà là mệnh lệnh sinh tồn của nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, vai trò của các đại học trọng điểm trong việc dẫn dắt công nghệ lõi và cung ứng nhân lực chất lượng cao trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Để giải mã những "điểm nghẽn" thể chế đang bó buộc sức sáng tạo và tìm kiếm lộ trình đưa trí thức Việt ra khỏi phòng thí nghiệm, vươn tầm thế giới, phóng viên đã có cuộc phỏng vấn sâu với NGƯT.PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng – Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN), Đại biểu Quốc hội khóa XVI. Với tư duy sắc sảo của một nhà khoa học và tầm nhìn chiến lược của một lập pháp gia, ông đã phác thảo nên một chân dung mới về "Đại học khởi nghiệp" – nơi không chỉ dạy học, mà còn là trái tim của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Tháo gỡ nút thắt cơ chế để đại học thực sự tự chủ
- Thưa ông, ĐHBKHN đang thực hiện sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn cho quốc gia. Với tư cách người đứng đầu cơ sở đào tạo trọng điểm, ông nhận diện đâu là rào cản lớn nhất để một đại học tự chủ có thể bứt phá, kịp thời đáp ứng tốc độ thay đổi của công nghệ toàn cầu?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là cơ chế chưa thực sự theo kịp tốc độ thay đổi của công nghệ và mô hình đại học hiện đại. Một đại học tự chủ muốn bứt phá phải có khả năng ra quyết định nhanh chóng về chương trình đào tạo, thu hút và sử dụng nhân sự chất lượng cao, phát triển các lĩnh vực công nghệ mới. Đồng thời, nhà trường cần đủ nguồn lực và không gian thể chế để đầu tư phòng thí nghiệm, thúc đẩy nghiên cứu và triển khai hợp tác doanh nghiệp thực chất.
Trên thực tế, mức độ linh hoạt tại nhiều khâu vẫn chưa đủ để đại học vận hành với tốc độ của đổi mới sáng tạo. Trong khi công nghệ thay đổi từng ngày, nhiều cơ chế vẫn vận hành theo nhịp độ của tư duy quản lý truyền thống. Vấn đề cốt lõi không nằm ở khát vọng hay năng lực, mà là nhu cầu về một cơ chế đủ mở để đại học thực sự trở thành chủ thể đổi mới sáng tạo.
Nếu được đầu tư mạnh mẽ và trao quyền tự chủ thực chất về tài chính, tổ chức, học thuật và thu hút nhân tài, các đại học trọng điểm sẽ đóng vai trò mạnh mẽ hơn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Muốn đại học bứt phá, cần có chủ trương đầu tư đủ mạnh và cơ chế thông thoáng để hành động linh hoạt, được đánh giá bằng kết quả thực chất.
Mô hình "Đại học khởi nghiệp" và nhân lực công nghệ then chốt
- Trước tình trạng khan hiếm nhân lực AI và Chip, trong khi đào tạo đại học thường có độ trễ, ông có đề xuất gì về cơ chế đặc thù để rút ngắn khoảng cách giữa giảng đường và dây chuyền sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Nếu không thay đổi mạnh mẽ mô hình đào tạo, khi sinh viên tốt nghiệp, công nghệ và nhu cầu của doanh nghiệp đã đi trước một bước. Cần thiết lập cơ chế đặc thù đối với một số đại học và lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, Chip, dữ liệu và công nghệ số với ba đột phá lớn:
Thứ nhất, doanh nghiệp tham gia đồng thiết kế chương trình đào tạo, từ chuẩn đầu ra, học phần đến môi trường thực hành. Thứ hai, cho phép mô hình đào tạo linh hoạt và tăng tốc thông qua đào tạo theo mô-đun, học kỳ tại doanh nghiệp, công nhận tín chỉ từ dự án thực tế và chương trình chuyển đổi nhanh cho kỹ sư ở các ngành gần. Thứ ba, thiết lập cơ chế đầu tư và nhân sự đặc thù để đại học phát triển nhanh phòng thí nghiệm, mời chuyên gia quốc tế và chuyên gia doanh nghiệp tham gia đào tạo gắn với dây chuyền công nghệ thực tế.
Để rút ngắn khoảng cách giữa giảng đường và sản xuất, cần thiết kế lại cơ chế để doanh nghiệp trở thành một phần của đại học và đại học trở thành một phần của hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, không thể chỉ giải quyết bài toán nhân lực trước mắt. Quốc gia muốn tiến xa trong AI và bán dẫn phải đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, khoa học nền tảng và năng lực công nghệ lõi. Việc thiếu đầu tư cho nghiên cứu cơ bản sẽ gây khó khăn trong việc hình thành năng lực công nghệ lõi. Mục tiêu đào tạo là vừa có đội ngũ kỹ sư thực hành ngay, vừa có lực lượng khả năng thiết kế, làm chủ và tạo ra công nghệ tương lai.
PGS. TS Huỳnh Quyết Thắng chụp ảnh lưu niệm cùng các sinh viên ĐHBKHN
- Trong vai trò Đại biểu Quốc hội, ông thúc đẩy những chính sách gì để kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm dễ dàng chuyển hóa thành các doanh nghiệp khởi nguồn (Spin-off)?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: “Đại học khởi nghiệp sáng tạo” là mô hình đại học biến tri thức thành giá trị phát triển. Tại đó, nhà trường không chỉ đào tạo và nghiên cứu mà còn tạo ra công nghệ, tài sản trí tuệ và các giải pháp phục vụ xã hội. Để vận hành mô hình này, cần ba nhóm chính sách then chốt:
Thứ nhất, làm rõ và trao quyền sở hữu trí tuệ cho trường đại học và nhóm nghiên cứu để chủ động thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thứ hai, cho phép góp vốn bằng tài sản trí tuệ và kết quả nghiên cứu, chuẩn hóa cơ chế định giá minh bạch và khả thi. Nhà khoa học cần được mở rộng quyền tham gia điều hành doanh nghiệp spin-off và chia sẻ lợi ích chính đáng. Khi giải quyết được mối quan hệ giữa quyền sở hữu, quyền tham gia và quyền hưởng lợi mới có thể khuyến khích sự dấn thân vào đổi mới sáng tạo. Thứ ba, thiết lập cơ chế tài chính và thị trường cho giai đoạn đầu, bao gồm quỹ đầu tư mồi và cơ chế đặt hàng từ Nhà nước, doanh nghiệp để công nghệ vượt qua giai đoạn chuyển đổi từ phòng thí nghiệm sang sản xuất.
Việc hoàn thiện quy trình thực thi rõ ràng về tiến độ, trách nhiệm và kết quả là yếu tố quan trọng nhất trong giai đoạn tới. Khi đại học được trao quyền tạo ra doanh nghiệp, khoa học sẽ trở thành động lực phát triển thực chất. Phòng thí nghiệm sẽ không còn là điểm kết thúc của nghiên cứu, mà trở thành điểm khởi đầu của chuỗi giá trị mới trong kinh tế.
“
"Đại học khởi nghiệp không chỉ là nơi dạy cách khởi nghiệp, mà là một mô hình biết biến tri thức thành giá trị phát triển; nơi phòng thí nghiệm không phải là điểm kết thúc mà là điểm khởi đầu của một chuỗi giá trị mới."
PGS. TS Huỳnh Quyết Thắng
Khơi thông nguồn lực tài chính và đổi mới thể chế số
- Để doanh nghiệp chủ động đặt hàng nghiên cứu thay vì nhập khẩu công nghệ, Quốc hội cần có những cú hích nào về chính sách tài chính cụ thể?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Chính sách phải làm cho đầu tư vào R&D có lợi, nhanh chóng và ít rủi ro hơn so với nhập khẩu công nghệ. Hiện doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng chọn giải pháp mua công nghệ sẵn có vì tính tiện lợi và dễ hạch toán. Để thay đổi hành vi này, cần thực hiện bốn giải pháp chính:
Một là, ưu đãi thuế thực chất cho chi phí R&D đặt hàng tại đại học với mức khấu trừ cao hơn mức chi phí thông thường. Hai là, xây dựng cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu theo nguyên tắc Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu (mô hình Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp). Với dự án công nghệ mới, Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí nếu thực hiện cùng đại học. Ba là, ưu đãi mạnh hơn cho đầu ra của nghiên cứu thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, khấu hao thiết bị hoặc ưu tiên mua sắm công đối với sản phẩm từ R&D nội địa. Bốn là, hình thành thị trường đặt hàng công nghệ minh bạch. Mục tiêu là định hướng doanh nghiệp xem đầu tư vào tri thức nội địa là lựa chọn kinh doanh thông minh.
- Từ thực tiễn quản trị tại Đại học Bách khoa Hà Nội, ông nhận thấy những quy định pháp luật nào đang hạn chế các đại học trong chuyển đổi số và kiến nghị sửa đổi cụ thể ra sao?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Chuyển đổi số giáo dục thực chất là chuyển đổi mô hình quản trị. Các rào cản hiện nay bao gồm: Quy định về chương trình đào tạo và công nhận tín chỉ chưa đủ linh hoạt cho các mô hình học trực tuyến, học liên ngành hay học theo mô-đun. Cơ chế tài chính đầu tư cho hạ tầng số và dữ liệu còn nặng tính hành chính, tương tự như đầu tư tài sản hữu hình, trong khi công nghệ cần cập nhật liên tục. Quy định về chia sẻ dữ liệu giáo dục còn phân tán, thiếu đồng bộ. Cơ chế đãi ngộ và thu hút chuyên gia công nghệ còn hạn chế.
“
"Giữ chân nhà khoa học trẻ không phải là 'giữ người', mà là xây dựng một hệ sinh thái khoa học đủ liêm chính, hiện đại và công bằng để họ thấy rằng ở lại là một lựa chọn có tương lai."
PGS. TS Huỳnh Quyết Thắng
Cần điều chỉnh chính sách theo hướng: Mở rộng không gian pháp lý cho mô hình đào tạo số; Đổi mới cơ chế tài chính linh hoạt; Xây dựng khung pháp lý thống nhất về dữ liệu giáo dục; Trao quyền tự chủ cao hơn trong thu hút nhân lực công nghệ. Chuyển đổi số trong giáo dục thực chất là cuộc cách mạng về thể chế.
Tự chủ đại học và năng suất lao động quốc gia
- Trong nhiệm kỳ XVI, cử tri kỳ vọng nâng cao năng suất lao động quốc gia. Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ giữa tự chủ đại học và việc cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo (GII) của Việt Nam?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Năng suất trong thời đại mới đến từ việc làm việc thông minh hơn thông qua công nghệ và giá trị gia tăng cao. Điều này phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nhân lực và năng lực nghiên cứu. Tự chủ đại học phải được nhìn nhận như một cấu phần của chiến lược quốc gia về năng suất và cạnh tranh. Khi đại học được trao quyền thực chất và được đầu tư đủ mạnh, đóng góp vào chỉ số GII sẽ chuyển đổi từ thứ hạng sang năng lực phát triển thực chất. Nếu đại học không đủ tự chủ để đổi mới nhanh, nền kinh tế quốc gia cũng khó có thể chuyển mình kịp thời.
- Là đại biểu đại diện giới trí thức, ông trăn trở điều gì về chính sách đãi ngộ để giữ chân các nhà khoa học trẻ ở lại làm việc trong môi trường học thuật trong nước?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Vấn đề đáng lo ngại nhất là người giỏi chưa nhìn thấy lộ trình đủ rõ để yên tâm cống hiến lâu dài. Muốn giữ chân nhà khoa học trẻ, cần thuyết phục họ bằng môi trường, cơ hội và niềm tin thể chế. Họ cần không gian để thực hiện những nhiệm vụ lớn, có nguồn lực theo đuổi ý tưởng và đảm bảo điều kiện sống bằng nghề nghiệp. Chính sách cần tập trung vào: đãi ngộ cạnh tranh, quỹ khởi đầu nghiên cứu, thủ tục tinh gọn và trao quyền sớm cho người tài. Xây dựng hệ sinh thái khoa học liêm chính, hiện đại và công bằng là giải pháp bền vững. Giữ chân nhà khoa học trẻ chính là giữ cho khoa học Việt Nam trở thành con đường có tương lai.
- Nếu dùng một từ để định nghĩa về mục tiêu đóng góp của ĐHBKHN cho sự phát triển quốc gia trong nhiệm kỳ XVI này, ông sẽ chọn từ nào?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Tôi chọn từ: “Tiên phong”. Trong bối cảnh mới, đại học trọng điểm quốc gia không chỉ đào tạo và nghiên cứu mà phải đi trước một bước trong các lĩnh vực then chốt: khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển công nghệ lõi. Tiên phong bao gồm cả việc xây dựng mô hình đại học mới và thực hiện trách nhiệm quốc gia.
ĐHBKHN phải góp phần xây dựng tương lai cho đất nước. Nếu đất nước cần lực lượng đi trước mở đường bằng tri thức, ĐHBKHN sẵn sàng nhận trách nhiệm đó.