Nhịp đập công nghệ

Rừng ngập mặn ĐBSCL: Từ 'lá chắn xanh' đến sinh kế bền vững

Văn Kim Khanh 01/04/2026 08:14

Rừng ngập mặn Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vừa bảo vệ môi trường vừa tạo sinh kế, hướng tới kinh tế xanh và thích ứng biến đổi khí hậu hiệu quả.

Rừng ngập mặn ĐBSCL không chỉ bảo vệ môi trường mà còn mở ra sinh kế bền vững, hướng tới kinh tế xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu.

rung ngaap man 6
TS. Trần Thị Ngọc Bích, Giám đốc Trung tâm nước STARS – Đại học Trà Vinh, nhà khoa học có nhiều nghiên cứu về rừng ngập mặn ở ĐBSCL - Ảnh: Văn Kim Khanh

“Lá chắn xanh” bảo vệ hệ sinh thái và cộng đồng

TS. Trần Thị Ngọc Bích, Giám đốc Trung tâm nước STARS - Đại học Trà Vinh, nhà khoa học có nhiều nghiên cứu về rừng ngập mặn ở ĐBSCL cho rằng: “Rừng ngập mặn tại các tỉnh ven biển như Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau từ lâu đã được ví như ‘bức tường xanh’ bảo vệ vùng đất châu thổ. Với hệ thống rễ chằng chịt, các loài cây đặc hữu như đước, mắm, bần có khả năng làm giảm đáng kể năng lượng sóng biển, hạn chế tác động của bão, triều cường và xói lở”.

Không chỉ đóng vai trò phòng hộ, rừng ngập mặn còn giúp giữ phù sa, lấn biển và ổn định đường bờ. Đây cũng là “vườn ươm tự nhiên” cho hàng ngàn loài thủy sinh, từ tôm, cua, cá đến các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao. Nhờ đó, hệ sinh thái này trở thành nền tảng sinh học quan trọng cho ngành thủy sản ĐBSCL.

Đặc biệt, rừng ngập mặn còn có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon vượt trội. Nhiều nghiên cứu cho thấy lượng carbon tích trữ trong hệ sinh thái này cao gấp nhiều lần so với rừng trên cạn, chủ yếu nằm trong lớp bùn yếm khí – nơi carbon có thể được “khóa” hàng trăm năm. Đây chính là yếu tố then chốt giúp rừng ngập mặn trở thành “vũ khí tự nhiên” trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.

Suy giảm rừng và hệ lụy đa chiều

Dù có vai trò đặc biệt, diện tích rừng ngập mặn tại ĐBSCL đã suy giảm mạnh trong nhiều thập kỷ qua. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc chuyển đổi đất sang nuôi tôm công nghiệp, phát triển hạ tầng và tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu.

Sự mất mát này kéo theo hàng loạt hệ lụy: suy yếu khả năng phòng hộ ven biển, gia tăng sạt lở, mất cân bằng sinh thái và suy giảm nguồn lợi thủy sản. Người dân ven biển – vốn phụ thuộc lớn vào tài nguyên tự nhiên – trở thành nhóm dễ bị tổn thương nhất khi sinh kế bị đe dọa.

Thực tế cho thấy, ở những khu vực rừng bị phá, tốc độ xói lở diễn ra nhanh hơn, khiến nhiều hộ dân mất đất sản xuất, phải di dời hoặc chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện bấp bênh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải khôi phục và quản lý rừng ngập mặn theo hướng bền vững.

rung ngap man 1 new
Rừng ngập mặn duyên hải Vĩnh Long - Ảnh: T.L

Sinh kế dưới tán rừng: hướng đi thuận thiên

Một trong những giải pháp hiệu quả hiện nay là phát triển sinh kế bền vững gắn với bảo vệ rừng. Thay vì khai thác tận diệt, người dân được khuyến khích “sống chung và hưởng lợi” từ hệ sinh thái.

Tiêu biểu là mô hình “tôm – rừng”, trong đó diện tích được phân bổ hài hòa giữa rừng và mặt nước. Tôm, cua, cá được nuôi theo phương thức tự nhiên, tận dụng nguồn thức ăn từ hệ sinh thái. Nhờ môi trường sạch và ổn định, sản phẩm đạt chất lượng cao, ít rủi ro dịch bệnh và giảm chi phí đầu vào.

Đặc biệt, tôm sinh thái từ mô hình này đã đạt nhiều chứng nhận quốc tế, giúp nâng giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Giá bán thường cao hơn từ 15–20% so với tôm nuôi công nghiệp, mang lại thu nhập ổn định cho người dân.

Bên cạnh đó, các mô hình đa dạng hóa sinh kế như nuôi cua, sò huyết, nuôi ong lấy mật hay phát triển du lịch sinh thái cũng đang được triển khai rộng rãi. Những hoạt động này không chỉ tăng thu nhập mà còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong cộng đồng.

ruong ngapman 2 new
Phục hồi rừng ngập mặn ở Vĩnh Long -Ảnh: T.L

Tín chỉ carbon xanh: cơ hội kinh tế mới

Một điểm nhấn quan trọng trong chiến lược phát triển rừng ngập mặn là khai thác thị trường tín chỉ carbon xanh. Đây được xem là “mỏ vàng mới”, mở ra nguồn thu nhập bổ sung cho người dân và địa phương.

Cơ chế hoạt động khá rõ ràng: khi rừng được trồng mới hoặc bảo vệ tốt, lượng carbon hấp thụ sẽ được đo đạc, xác nhận và quy đổi thành tín chỉ carbon. Các tín chỉ này có thể bán cho doanh nghiệp hoặc quốc gia cần bù đắp phát thải để đạt mục tiêu trung hòa carbon.

Điều đáng chú ý là người dân tham gia bảo vệ rừng có thể nhận được lợi ích trực tiếp từ nguồn thu này. Không chỉ vậy, một phần nguồn lực còn được tái đầu tư vào cộng đồng, hỗ trợ hạ tầng, vốn sản xuất và phát triển sinh kế.

Quan trọng hơn, khi giá trị kinh tế của rừng được nâng lên thông qua carbon, áp lực phá rừng sẽ giảm đáng kể. Khi “giữ rừng có lợi hơn phá rừng”, bảo tồn sẽ trở thành lựa chọn tự nhiên của người dân.

Thách thức và yêu cầu chính sách

Theo TS. Trần Thị Ngọc Bích: Dù tiềm năng lớn, việc phát triển mô hình “rừng – sinh kế – carbon” vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Trong đó, nổi bật là hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, đặc biệt liên quan đến quyền sở hữu và chia sẻ lợi ích từ tín chỉ carbon.

Bên cạnh đó, chi phí đo đạc, thẩm định carbon còn cao, vượt quá khả năng của nhiều cộng đồng nhỏ lẻ. Rủi ro từ biến đổi khí hậu như sạt lở, nước biển dâng cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả các dự án trồng rừng.

Để giải quyết, cần sớm hoàn thiện cơ chế chính sách, xác định rõ quyền lợi của người dân – những người trực tiếp bảo vệ rừng. Đồng thời, thúc đẩy liên kết theo mô hình hợp tác xã để tăng quy mô, giảm chi phí và nâng cao năng lực tham gia thị trường carbon.

Việc ứng dụng công nghệ như viễn thám, trí tuệ nhân tạo trong giám sát rừng cũng là hướng đi cần thiết, giúp minh bạch dữ liệu và nâng cao hiệu quả quản lý.

rung ngap man 3 new
Chương trình trồng rừng ở Vĩnh Long do một doanh nghiệp Hàn Quốc tài trợ - Ảnh: T.L

Hướng tới tương lai xanh và bền vững

Ông Tô Hoài Phương - Giám đốc Sở Nông nghiệp & Môi trường (NN&MT) tỉnh Cà Mau - cho rằng, sự kết hợp giữa bảo vệ rừng ngập mặn, phát triển sinh kế thuận thiên và khai thác tín chỉ carbon xanh đang mở ra một hướng đi mới cho ĐBSCL. Đây không chỉ là giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn là chiến lược phát triển kinh tế – sinh thái bền vững.

Ông Phan Nghệ, Phó trưởng Phòng Kinh tế hợp tác – Chi cục Kinh tế hợp tác Phát triển Nông thôn - Sở NN&MT tỉnh Cà Mau cho biết, khi người dân có thể sống tốt từ rừng, khi mỗi cánh rừng mang lại giá trị kinh tế và môi trường song hành, thì ‘lá chắn xanh’ của ĐBSCL sẽ ngày càng vững chắc".

Trong hành trình đó, khoa học – công nghệ, chính sách phù hợp và sự tham gia của cộng đồng sẽ là những yếu tố quyết định. Rừng ngập mặn không chỉ bảo vệ đất, giữ nước mà còn giữ tương lai cho cả vùng châu thổ – nơi hàng triệu người đang đặt niềm tin vào một mô hình phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Văn Kim Khanh