Kinh tế

Tân Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn với bài toán giảm lãi suất mà không để tỷ giá trượt khỏi tầm tay

Tuấn Hải 08/04/2026 20:01

Ngồi “ghế nóng” vào thời điểm lãi suất tăng rất cao trong 10 năm qua, dự trữ ngoại hối dưới mức tiêu chuẩn 3 tháng nhập khẩu, tăng trưởng tín dụng cao nhất (gần 20%) kể từ khi Ngân hàng Nhà nước kiểm soát (năm 2012), tân Thống đốc Phạm Đức Ấn giải bài toán thế nào để “kéo” lãi suất đi xuống nhằm hỗ trợ tăng trưởng, trong khi thanh khoản, lạm phát và dự trữ ngoại hối đều đang tạo sức ép lên chính sách tiền tệ?

Sáng nay, ngày 8.4.2026, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ nhiệm kỳ 2026–2031, trong đó ông Phạm Đức Ấn được phê chuẩn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Phạm Đức Ấn - 1
Tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn

Lãi suất tăng rất cao trong 10 năm qua

Ngay khi ngồi “ghế nóng”, tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn sẽ tổ chức và chủ trì cuộc họp với 46 ngân hàng thương mại vào ngày mai (9.4) để triển khai công tác ngân hàng năm 2026. Nhưng nóng nhất là vấn đề giảm lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng GDP, trong bối cảnh thanh khoản, lạm phát và dự trữ ngoại hối đều đang tạo sức ép lên chính sách tiền tệ.

Đây chính là bài toán đầu tiên của tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cần phải giải trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 được đặt ở mức bình quân từ 10% trở lên.

Từ cuối năm 2025 đến nay, lãi suất ngân hàng liên tục điều chỉnh tăng mạnh, đến nay, theo thống kê của PV Một Thế giới, lãi suất tiền gửi đã tăng mạnh và có sự tham gia của các ông lớn ngân hàng. Cụ thể, mặt bằng lãi suất kỳ 1-2 tháng đã lên mức 4,5%, gần chạm mức trần NHNN quy định là 4,75%. Đặc biệt, kỳ hạn 12 tháng đã được đẩy lên rất cao và thị trường ghi nhận mức lãi suất đặc biệt cao nhất 9-10%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng. Cụ thể, PVcomBank đang áp dụng lãi suất đặc biệt 10%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng khi gửi tiền tại quầy, với điều kiện duy trì số dư tối thiểu 2.000 tỉ đồng. Mức lãi suất mới đã tăng 1%/năm, trước đó, ngân hàng niêm yết 9%/năm cho cùng kỳ hạn và điều kiện tiền gửi.

Hình 1-1

Hình 1-2

Còn lại, các ngân hàng khác cũng đã điều chỉnh lãi suất lên 7,7-7,9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Điều đáng nói, các gói lãi suất đặc biệt, hiện nhiều ngân hàng cũng niêm yết mức lãi suất trên 7%/năm đối với các kỳ hạn dài mà không yêu cầu số tiền gửi tối thiểu lớn.

Về vấn đề này, trao đổi với tạp chí Một Thế giới, ông Nguyễn Xuân Thành, giảng viên cao cấp, Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, nhấn mạnh vấn đề không thể giảm lãi suất bằng mọi giá.

“Nếu giảm lãi suất ngay theo cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế, thì con đường đó có thể dẫn tới bất ổn chứ không phải cứu tăng trưởng. Bơm tiền ra sẽ gây áp lực tỷ giá gần như ngay lập tức. Trong khi đó, dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện ở mức thấp, theo cách nói trong trao đổi là chỉ còn khoảng 8 tuần nhập khẩu, trong khi mức an toàn là 12 tuần. Điều đó có nghĩa là dư địa để tiếp tục dùng dự trữ ngoại hối hỗ trợ tỷ giá không còn nhiều”, ông Thành phân tích.

Theo ông Thành, hiện dự trữ ngoại hối của Việt nam còn 8 tuần nhập khẩu, tương đương khoảng 70 tỉ USD, trong khi để đủ tiêu chuẩn, dự trữ ngoại hối phải tương đương 3 tháng nhập khẩu, khoảng 110 tỉ USD. Với diễn biến hiện nay, dự trữ ngoại hối đang có xu hướng tiếp tục giảm và diễn biến USD trên thị trường tự do tiếp tục tăng cao.

Theo ghi nhận của PV tạp chí Một Thế giới, có thời điểm giá USD trên thị trường tự do giao dịch lên tới 28.000 VND/USD.

Thanh khoản căng như “dây đàn”

Bên cạnh vẫn đề lãi suất, thanh khoản hệ thống ngân hàng cũng là bài toán cần phải giải. Từ đầu năm đến tháng nay, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực căng thẳng ngắn hạn do tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn, khiến lãi suất liên ngân hàng tăng vọt. NHNN đã phải bơm ròng khối lượng lớn tiền ra thị trường để hỗ trợ, dự báo lãi suất huy động có thể tăng chậm lại.

Cụ thể, theo thống kê của NHNN, tính đến 24/3/2026, hệ thống ngân hàng đang cho thấy tăng trưởng tín dụng vượt tăng trưởng huy động. Cụ thể, tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng tăng 2,15%, trong khi tăng trưởng huy động chỉ tăng 0,44% so với cuối năm 2025, tạo áp lực lên các ngân hàng thương mại. Theo đó, lãi suất liên ngân hàng cũng tăng cao. Cụ thể lãi suất qua đêm có thời điểm tăng vọt từ 4, 63% lên mức 11,42% (phiên giao dịch ngày30/3), sau đó neo cao quanh mức 8-9% ở các kỳ hạn 1-3 tháng.

Với tình hình thanh khoản như vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tích cực bơm tiền qua kênh thị trường mở (OMO) với gần 256.000 tỉ đồng trong tuần đầu tháng 4/2026 để giải tỏa căng thẳng. Áp lực thanh khoản lớn khiến mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có xu hướng tăng trong thời gian tới.

Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng có xu hướng tăng. Tính đến cuối năm 2025, tăng trưởng tín dụng đã gần chạm mức 20%, cao nhất tính từ khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm soát (năm 2012). Mặc dù kế hoạch năm 2026 của NHNN, tăng trưởng tín dụng chỉ 15%, nhưng vẫn phải linh hoạt theo hướng tăng giảm sao cho phù hợp với tình hình thực tế bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng.

Tuy vậy, với nhiều giải pháp của NHNN, dự báo thanh khoản dự kiến sẽ được cải thiện dần, nhưng áp lực vẫn tồn tại khi nhu cầu vốn đầu năm và cuối năm tăng cao, đòi hỏi các ngân hàng phải cơ cấu lại nguồn vốn.

Cùng với tăng trưởng tín dụng cao, chỉ số CPI cũng đang ở mức cao. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), quý 1/2026 CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm 2025. Lạm phát cơ bản bình quân quý 1 tăng 3,63%. Trong khi mục tiêu kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2026 được Chính phủ và các cơ quan chức năng định hướng ở mức khoảng 4,5%.

Bài toán cải cách cấu trúc ngành ngân hàng

Một thách thức nữa của tân Thống đốc còn trải dài sang những khu vực ít gắn trực tiếp với lãi suất, nhưng lại phản ánh rõ áp lực cải cách cấu trúc của ngành ngân hàng.

Cụ thể, Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đang đặt lên vai hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước một trọng trách lớn hơn. Đó là, không chỉ là “sếu đầu đàn” dẫn dắt thị trường, mà còn là trụ cột giữ ổn định vĩ mô. Mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước vào Top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản là một tham vọng lớn, nhưng để đạt được điều đó, bài toán cấp thiết là nâng cao năng lực tài chính cho khối này.

Nghị quyết 79 nhận định, nguồn lực của các ngân hàng thương mại nhà nước hiện vẫn còn hạn chế và áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn cho các siêu dự án hạ tầng và năng lượng tái tạo đang đẩy nhóm ngân hàng này tới nguy cơ chạm trần các tỷ lệ an toàn.

Vì vậy Nghị quyết 79 được kỳ vọng như một giải pháp thực chất cho năng lực cạnh tranh của khối này, khi mở ra cơ chế cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước giữ lại lợi nhuận sau thuế để tăng vốn thay vì nộp ngân sách như trước. Cơ chế đó có thể giúp cải thiện hệ số an toàn vốn, tạo thêm dư địa tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn khổng lồ của giai đoạn 2026-2030. Dù vậy, chỉ giữ lại lợi nhuận có lẽ chưa đủ.

Đây là vấn đề tân Thống đốc Phạm Đức Ấn cần giải quyết.

Bên cạnh đó, vấn đề vận hành sàn giao dịch vàng cũng là một thách thức. Sau hơn một thập kỷ quản lý thị trường vàng chủ yếu bằng biện pháp hành chính, Nghị định 232/2025/NĐ-CP đã khép lại thời kỳ Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, mở đường cho một cách tiếp cận mới dựa nhiều hơn vào thể chế và quy luật thị trường. Song chuyển từ một thị trường “đóng” sang mô hình sàn giao dịch hiện đại, minh bạch và an toàn sẽ đòi hỏi một hạ tầng kỹ thuật và hành lang pháp lý hoàn toàn khác. Đây là một thay đổi mang tính cấu trúc, không chỉ là sửa quy định.

Nhìn từ toàn bộ bức tranh đó, thách thức lớn nhất của tân Thống đốc Phạm Đức Ấn không nằm ở một chỉ tiêu đơn lẻ. Nó nằm ở việc phải cùng lúc giải nhiều bài toán chồng lấn lên nhau: hạ lãi suất nhưng không để tỷ giá mất kiểm soát, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không thổi bùng lạm phát, bơm vốn cho nền kinh tế nhưng vẫn giữ thanh khoản và an toàn hệ thống, nâng năng lực cho các ngân hàng trụ cột nhưng không làm méo mó cạnh tranh, mở cửa thị trường vàng nhưng vẫn bảo đảm trật tự, thúc đẩy ngân hàng số nhưng không đánh đổi an toàn.

Nói cách khác, chiếc “ghế nóng” của tân Thống đốc Phạm Đức Ấn không chỉ nóng vì áp lực thị trường và còn vì đây là vị trí phải quyết định ranh giới giữa tăng trưởng và ổn định trong một giai đoạn mà Việt Nam muốn đi nhanh hơn, nhưng sai lầm chính sách lại trở nên đắt giá hơn bao giờ hết.

Hình 1-3
Hình 1-3

Tuấn Hải