Thời sự

Việt Nam cần ứng phó trước biến động tại thị trường năng lượng ra sao?

Bùi Tú 13/04/2026 12:27

Những căng thẳng địa chính trị leo thang tại khu vực Trung Đông đang tạo ra những biến động mạnh mẽ đối với thị trường năng lượng toàn cầu.

Đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh như Việt Nam, thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nhìn nhận an ninh năng lượng dưới một góc độ toàn diện hơn. Thay vì ưu tiên tập trung vào phía cung, các nhà hoạch định chính sách cần chú trọng đến phía cầu, bao gồm cách thức người dân, cộng đồng doanh nghiệp và toàn bộ khu vực công tiêu thụ năng lượng trong các hoạt động thường nhật.

Giải pháp ứng phó tức thời và bài toán tối ưu hóa tiêu dùng

Nhìn từ kinh nghiệm của các quốc gia đang nỗ lực ứng phó với khủng hoảng năng lượng, Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Khương, giảng viên ngành Kỹ thuật điện tử và Hệ thống máy tính, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng việc ưu tiên các biện pháp tiết kiệm trong ngắn hạn mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhóm giải pháp này thu hút sự quan tâm lớn nhờ khả năng triển khai nhanh chóng, đòi hỏi mức chi phí đầu tư thấp song lại tạo ra tác động tức thì trong việc làm giảm áp lực lên hệ thống cung ứng nhiên liệu.

ĐH RMIT - TS Nguyễn Vĩnh Khương
Tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Khương, giảng viên ngành Kỹ thuật điện tử và Hệ thống máy tính, Đại học RMIT Việt Nam

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã đưa ra nhiều khuyến nghị khẩn cấp nhằm kiểm soát nhu cầu, bao gồm việc mở rộng mô hình làm việc từ xa, điều tiết giảm tốc độ các phương tiện giao thông, khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng và hạn chế các chuyến đi chưa thực sự cấp thiết. Rất nhiều chính phủ trên thế giới đã nhanh chóng áp dụng những biện pháp tương tự vào thực tiễn quản lý điều hành.

Tại Thái Lan, các cơ quan hành chính công được khuyến khích sử dụng trang phục làm việc nhẹ nhàng, thoải mái kết hợp với việc điều chỉnh nhiệt độ máy điều hòa không khí ở mức 26 đến 27 độ C nhằm cắt giảm lượng điện năng tiêu thụ. Một số quốc gia trong khu vực châu Á như Philippines, Pakistan, Sri Lanka hay Ai Cập đã mạnh dạn áp dụng chế độ tuần làm việc 4 ngày hoặc sắp xếp các ngày nghỉ xen kẽ giữa tuần để giảm thiểu lưu lượng phương tiện tham gia giao thông.

Chính quyền Myanmar lựa chọn giải pháp hạn chế phương tiện cá nhân lưu thông dựa trên quy tắc biển số chẵn và lẻ. Tương tự, Bangladesh áp dụng cơ chế phân bổ nhiên liệu nghiêm ngặt nhằm kiểm soát chặt chẽ nhu cầu sử dụng của người dân. Điểm chung cốt lõi của các chính sách này là khả năng tác động và định hình lại thói quen tiêu dùng năng lượng của xã hội trong một thời gian ngắn.

Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo và cân nhắc áp dụng các biện pháp linh hoạt như cho phép làm việc đan xen tại nhà đối với khu vực công, điều chỉnh giờ làm việc để phân luồng giao thông nhằm giảm ùn tắc vào những khung giờ cao điểm, hoặc ban hành quy định về mức nhiệt độ điều hòa tối thiểu tại các tòa nhà văn phòng và trung tâm thương mại.

Dù mang lại hiệu quả tức thì, các biện pháp can thiệp hành vi ngắn hạn thường mang tính chất tình thế nhằm xoa dịu những cú sốc về giá cả. Về dài hạn, nền kinh tế cần những thay đổi căn bản về chính sách và thể chế để thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tiết kiệm một cách bền vững. Thực tiễn quốc tế chỉ ra rằng, cơ chế giá cả thị trường đóng vai trò quyết định trong việc điều chỉnh thói quen tiêu dùng.

Một số quốc gia châu Âu đã thiết lập mức giá trần, đồng thời cắt giảm dần các khoản trợ cấp nhiên liệu hóa thạch nhằm khuyến khích người dân nâng cao ý thức tiết kiệm. Các quốc gia này cũng rót nguồn vốn lớn vào việc cải thiện hiệu suất năng lượng trong các công trình xây dựng, khu dân cư và nhà máy sản xuất công nghiệp, đặc biệt khi khu vực dân dụng chiếm tới một nửa tổng lượng điện tiêu thụ ở nhiều quốc gia.

Đối với Việt Nam, hướng đi này gợi mở những chính sách quản lý vĩ mô quan trọng. Cơ quan quản lý cần tiến hành điều chỉnh dần các chính sách trợ giá năng lượng thông qua lộ trình cắt giảm những khoản hỗ trợ từ ngân sách nhà nước vốn đang giữ giá xăng, dầu, điện, gas ở mức thấp hơn giá thị trường, qua đó giúp người dân và doanh nghiệp có thời gian thích ứng từ từ.

Các cơ quan chức năng cũng cần ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn bắt buộc về hiệu suất năng lượng đối với các thiết bị điện và công trình xây dựng. Song song với đó, các tổ chức tín dụng đóng vai trò quan trọng thông qua việc cung cấp các gói tín dụng xanh, tạo động lực để các doanh nghiệp đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ sản xuất theo hướng tiết kiệm tài nguyên.

Điện hóa nền kinh tế và tầm nhìn tái cấu trúc thị trường năng lượng

Những biến động phức tạp của thị trường quốc tế một lần nữa bộc lộ rủi ro to lớn của việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn dầu mỏ nhập khẩu. Nhận thức được điều này, nhiều quốc gia và tập đoàn đa quốc gia đã bắt đầu đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang sử dụng xe điện hoặc ứng dụng năng lượng điện vào các hoạt động nấu ăn, vận tải và sản xuất công nghiệp. Chiến lược điện hóa mang lại ba lợi ích cốt lõi cho sự phát triển của một quốc gia.

Khía cạnh đầu tiên là việc hạn chế sự phụ thuộc vào các yếu tố địa chính trị phức tạp. Điện năng có thể được sản xuất từ nhiều nguồn sẵn có trong nước bao gồm năng lượng tái tạo, than đá, khí đốt và thủy điện, giúp nền kinh tế giảm thiểu rủi ro khi chuỗi cung ứng dầu mỏ toàn cầu bị gián đoạn. Khía cạnh thứ hai liên quan đến khả năng bình ổn chi phí trong dài hạn.

Trong khi giá dầu thô luôn biến động mạnh theo từng diễn biến chính trị thế giới, chi phí sản xuất điện, đặc biệt là nguồn điện từ năng lượng tái tạo, lại cho thấy xu hướng ổn định và có thể dự báo được. Khía cạnh thứ ba là việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch xanh trên quy mô toàn cầu. Khủng hoảng năng lượng hiện tại vô tình tạo ra một lực đẩy mạnh mẽ, khiến các nguồn năng lượng tái tạo trở nên cạnh tranh vượt trội về mặt chi phí so với nhiên liệu hóa thạch truyền thống.

Một yếu tố then chốt cần được xem xét kỹ lưỡng là chiến lược điện hóa chỉ thực sự phát huy tối đa hiệu quả khi được triển khai đồng bộ với quá trình chuyển đổi sang các nguồn điện sạch. Nếu hệ thống điện lưới vẫn tiếp tục phụ thuộc nặng nề vào nhiệt điện than, những lợi ích mang lại cho môi trường tự nhiên sẽ bị hạn chế đi rất nhiều. Việc đảm bảo một hệ sinh thái năng lượng xanh từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ cuối cùng là yếu tố quyết định sự thành công của chiến lược này.

Những khó khăn hiện tại trên thị trường thế giới chứng minh rằng an ninh năng lượng đã vượt ra khỏi ranh giới của ngành dầu khí hay điện lực. Vấn đề này đã trở thành nền tảng quyết định sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô và năng lực chống chịu của toàn bộ quốc gia trước những biến động khó lường. Quá trình ứng phó hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các giải pháp ngắn hạn và dài hạn.

Việc triển khai các biện pháp tiết kiệm tiêu dùng giúp giảm bớt áp lực giá cả trong thời điểm hiện tại, tạo không gian để thiết kế những chiến lược bền vững hơn dựa trên việc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên và đẩy mạnh tiến trình điện hóa toàn diện. Đây là một cơ hội vàng để Việt Nam nhìn nhận lại và thực hiện các bước tái cấu trúc hệ thống năng lượng theo hướng bền vững, tự chủ và sẵn sàng đối mặt với mọi thách thức trong tương lai.

Bùi Tú