Thời sự

Chuyển đổi số văn hóa, cần xây dựng cơ chế thực thi và hạ tầng dữ liệu

Nam Phong 22/04/2026 11:45

Để văn hóa trở thành động lực phát triển, TS. Trần Văn Khải – Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH,CN&MT kiến nghị: Cần ưu tiên đầu tư hạ tầng dữ liệu và nhân lực công nghệ cao. Việc chuyển đổi số văn hóa phải chuyển dịch từ tư duy “khẳng định chính sách” sang “thiết kế cơ chế thực thi” để tháo gỡ những điểm nghẽn về công nghệ.

Điểm nghẽn từ hạ tầng dữ liệu và nhân lực số

Tại nghị trường ngày 22/4/2026, TS. Trần Văn Khải thẳng thắn chỉ ra rằng: Việc chuyển đổi số văn hóa đang đối mặt với những thách thức lớn về mặt kỹ thuật và quản trị. Dưới góc nhìn của một nhà quản lý khoa học, ông nhận định, thực tiễn tại các hệ thống di sản, thư viện và bảo tàng hiện nay là một bức tranh thiếu đồng bộ: cơ sở dữ liệu phân tán, các nền tảng phần mềm chưa tương thích và thiếu kinh phí duy trì hệ thống sau khi số hóa.

số hoá văn hoá
TS. Trần Văn Khải – Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH,CN&MT phát biểu sáng 22.4

Phát biểu trước Quốc hội, ông nhấn mạnh: “Nơi nào đi đầu số hóa thì nơi đó cũng đang đối diện với bài toán hạ tầng thiếu đồng bộ, cơ sở dữ liệu phân tán, phần mềm chưa tương thích, thiếu kinh phí duy trì và nâng cấp hệ thống. Điều này cho thấy nếu Điều 10 dự thảo Nghị quyết chỉ dừng ở mức ‘ưu tiên đầu tư’ mà không gắn chặt với cơ chế phân bổ nguồn lực tại Điều 3 thì rất khó tạo chuyển biến thực chất”.

Bên cạnh hạ tầng, sự thiếu hụt nhân lực công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và an ninh mạng đang trở thành “điểm nghẽn” chiến lược. Trong khu vực công, đội ngũ có khả năng quản trị và sáng tạo nội dung số còn rất mỏng, trong khi cơ chế đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh với khu vực tư nhân.

Ông Khải cảnh báo: “Chúng ta đều nói nhiều về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng, nhưng phải thẳng thắn rằng nhân lực đủ năng lực để làm những việc đó trong khu vực công hiện nay còn rất mỏng. Nếu không xác định rõ nhóm nhân lực trọng điểm và cơ chế thu hút chuyên gia theo dự án, điều khoản này sẽ chưa giải quyết trúng căn nguyên bài toán nhân lực”.

Thiết lập chuẩn dữ liệu cho chuyển đổi số văn hóa

Để khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, đại biểu Trần Văn Khải đề xuất cần sửa đổi Điều 10 theo hướng kỹ trị và minh bạch hơn, nhằm thúc đẩy chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa thực chất. Cụ thể, Nghị quyết cần quy định rõ về chuẩn dữ liệu chung để đảm bảo tính liên thông giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia. Việc dùng chung nền tảng không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách mà còn tạo ra một hệ sinh thái dữ liệu mở, giúp các di sản văn hóa có thể tiếp cận được trên không gian số một cách thống nhất.

Kho báu đắp chiếu và cuộc đại cải tổ đột phá phát triển văn hoá Việt Nam

Đặc biệt, vấn đề an ninh và chủ quyền quốc gia trong chuyển đổi số ngành văn hóa phải được đặt lên hàng đầu. Trong bối cảnh công nghệ Deepfake và các hình thức xâm phạm bản quyền số ngày càng tinh vi, việc thiết lập bộ chỉ số đánh giá thực hiện và quy trình bảo quản số lâu dài là bắt buộc. Một trong những đề xuất mạnh mẽ nhất của ông là việc định mốc thời gian cụ thể cho nhiệm vụ số hóa quốc gia.

“Tôi đặc biệt đề nghị luật hóa ngay trong Nghị quyết mốc hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026 để bảo đảm đồng bộ với mục tiêu của Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”, ông Khải nêu quan điểm. Đây được xem là "mệnh lệnh công nghệ" để các đơn vị đẩy mạnh chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa, xây dựng kho tài nguyên số quý giá cho tương lai.

Sự liên thông dữ liệu mà ông đề xuất không chỉ dừng lại ở mức lưu trữ, mà phải là khả năng tương tác. Việc áp dụng các công nghệ như thực tế ảo tăng cường (AR/VR/XR) hay mô hình hóa 3D di sản sẽ chỉ khả thi khi công tác chuyển đổi số văn hóa có một hạ tầng dữ liệu đủ mạnh và các chuẩn định dạng thống nhất toàn quốc.

Quỹ đổi mới sáng tạo và vốn mồi cho startup văn hóa

Về nguồn lực tài chính, TS. Trần Văn Khải cho rằng con số chi tối thiểu 2% ngân sách nhà nước cho văn hóa cần được cơ cấu lại theo hướng tăng tỷ trọng cho khoa học và công nghệ. Ông phân tích: “Vấn đề không chỉ là có 2%, mà là 2% đó được cơ cấu ra sao, bao nhiêu cho thiết chế cơ sở, bao nhiêu cho chuyển đổi số, bao nhiêu cho an ninh văn hóa số, bao nhiêu cho đào tạo nhân lực số... Nếu không làm rõ, chúng ta có thể đạt chỉ tiêu về tổng lượng chi, nhưng không đạt được mục tiêu chiến lược về hiệu quả chi”. Chiến lược chuyển đổi số ngành văn hóa vì thế cần được định lượng bằng các con số đầu tư cụ thể vào công nghệ.

Đối với Điều 11, đại biểu đề nghị thiết kế lại Quỹ văn hóa, nghệ thuật để tổ chức này hoạt động như một công cụ dẫn dắt đổi mới sáng tạo thực thụ. Thay vì chỉ đóng vai trò hỗ trợ hành chính, quỹ cần có cơ chế "vốn mồi" để hỗ trợ cho các startup, các doanh nghiệp phát triển nền tảng nội dung số và các mô hình chuyển đổi số hiện đại.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý: “Phải thiết kế Quỹ thực sự trở thành công cụ dẫn dắt đổi mới sáng tạo, có thể đầu tư cho startup công nghệ văn hóa, nền tảng nội dung số, nhưng phải có cơ chế quản trị quỹ hết sức chặt chẽ, minh bạch, không để biến một chủ trương đúng thành một thiết chế rủi ro”. Đây là một yêu cầu tất yếu trong quản trị nguồn vốn nhà nước dành cho các dự án có tính rủi ro cao trong lộ trình chuyển đổi số văn hóa.

TS. Trần Văn Khải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi tư duy làm chính sách. Tiến trình chuyển đổi số không đơn thuần là mua sắm thiết bị hay số hóa tài liệu giấy, mà là kiến tạo một hệ sinh thái hiện đại, nhân văn, an toàn và có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Ông khẳng định: “Nếu chỉ ban hành một nghị quyết khẳng định quyết tâm chính trị thì chúng ta mới đi được nửa chặng đường. Nửa chặng đường còn lại là phải tạo ra những cơ chế đủ đột phá, đủ cụ thể và đủ khả thi để văn hóa bước ra khỏi tình trạng ‘đúng nhưng khó làm’, ‘muốn làm nhưng thiếu nguồn lực’”.

Nếu các kiến nghị về hạ tầng dữ liệu và cơ chế tài chính cho ngành văn hoá chuyển đổi số được tiếp thu, Việt Nam sẽ tạo ra một "sức mạnh mềm" mới trên không gian mạng, đóng góp xứng đáng vào khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Nam Phong