Lăng kính

Công nghệ không đủ bao dung với người khuyết tật

Trần Quốc Nam 22/04/2026 12:34

Công nghệ được tạo ra để mở rộng khả năng của con người, nhưng với không ít người khuyết tật, nó lại vô tình trở thành một cánh cửa hẹp.

Tôi không thể quên được cuộc gọi lúc 2h sáng cuối năm 2024 của anh Chung - một người khuyết tật, bạn tôi ở Ninh Bình: “Cậu có tiền chuyển giúp vào tài khoản cho con tôi 20 triệu với, cháu cần gấp để đóng viện phí”.

Anh Chung từ khi sinh ra đã mắc hội chứng Moebius* khiến khuôn mặt anh “bị đơ” như một Manơcanh, anh vẫn tự gọi vui mình là “Mask”.

Chung “Mặt nạ” nhờ mô hình nuôi dê chăn thả, làm du lịch sinh thái nên có thể nói là “đại gia” trong cộng đồng người khuyết tật. Một người cha có số dư trong tài khoản lên đến vài tỉ mà không thể chuyển nổi cho con mình 20 triệu đóng viện phí. Quyết định 2345/QĐ-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành) yêu cầu “Phải xác thực sinh trắc học (Nhận diện khuôn mặt - face ID) khi chuyển tiền từ 10 triệu đồng trở lên. Biểu cảm khuôn mặt lại chính là vấn đề của anh Chung.

Rạng sáng hôm sau, chiếc Lexus quen thuộc của anh đỗ xịch trước cửa nhà tôi, anh mang cọc tiền vào gửi mà mặt cười hơn cả mếu: “Tôi bị hệ thống Smartbanking từ chối, không phải một lần, mà nhiều lần. Tôi muốn hỏi công nghệ này được tạo ra cho ai?”

người khuyết tật
Ảnh minh hoạ

Những hệ thống như nhận diện khuôn mặt, dấu vân tay tưởng chừng khách quan, thực chất lại phản ánh một chuẩn mực vô hình: “người bình thường - người không có khiếm khuyết” thì sử dụng được bởi dữ liệu không bao gồm đủ những khác biệt, còn những người có sự khác biệt như anh Chung “Mask” sẽ bị loại trừ (một cách vô tình). Đó không chỉ là vấn đề kỹ thuật. Đó là câu chuyện của sự thiếu vắng nguyên tắc Accessibility (Khả năng tiếp cận) nơi công nghệ phải được thiết kế cho tất cả mọi người, ngay từ đầu.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê và các báo cáo liên quan, Việt Nam hiện có khoảng 6,2-6,5 triệu người khuyết tật, tương đương 6-7% dân số từ 2 tuổi trở lên. Trong số này, có khoảng 2 triệu người khiếm thị hoặc suy giảm thị lực, hơn 3 triệu người khuyết tật vận động và một tỉ lệ đáng kể không thể sử dụng xác thực vân tay hoặc nhận diện khuôn mặt.

Những con số này không chỉ là dữ liệu. Chúng là minh chứng cho một thực tế: hàng triệu người đang gặp khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ số thiết yếu. Với người khiếm thị, rào cản nằm ở thiết kế: khi nhiều ứng dụng ngân hàng, dịch vụ công không tương thích với phần mềm đọc màn hình, các bước xác thực bằng hình ảnh (CAPTCHA, nhận diện khuôn mặt) không thể tự thực hiện.

Việc xác thực thiếu mô tả âm thanh khiến họ mất quyền riêng tư, phải phụ thuộc vào người khác. Người mất chi trên hoặc dị dạng bàn tay bị từ chối ngay bước xác thực bởi tiêu chuẩn sinh trắc học: hệ thống vân tay mặc định người dùng có đủ và rõ vân tay. Trên thực tế trong nhiều trường hợp, không có phương án thay thế tương đương.

Sự loại trừ này diễn ra âm thầm. Không có một thông báo từ chối rõ ràng. Chỉ là những lần xác thực thất bại, những quy trình không thể hoàn tất và công nghệ vốn kỳ vọng giúp cho cuộc sống của tất cả trở nên thoải mái hơn, an toàn hơn lại trở thành một bộ lọc vô hình, gạt lại phía sau những người yếu thế.

Ở nhiều quốc gia tiên tiến, việc đảm bảo người khuyết tật tiếp cận công nghệ không còn là khuyến khích mà là nghĩa vụ pháp lý. Tại Mỹ, Americans with Disabilities Act (Đạo luật về người khuyết tật - ADA) coi việc không đảm bảo tiếp cận là một dạng phân biệt đối xử. Các quy định mới thậm chí đã yêu cầu website và ứng dụng di động phải tuân thủ tiêu chuẩn tiếp cận cụ thể. Mục 508 ADA quy định các cơ quan liên bang phải đảm bảo mọi công nghệ thông tin, từ phần mềm đến website, đều sử dụng được với người khuyết tật.

Tại châu Âu, European Accessibility Act (Đạo luật về khả năng tiếp cận tại Châu Âu - EAA) đi xa hơn: không chỉ dừng ở website, mà mở rộng sang cả ATM, điện thoại, ngân hàng số, thương mại điện tử… Luật này đặt ra yêu cầu bắt buộc: mọi sản phẩm và dịch vụ số quan trọng phải có khả năng tiếp cận.

Cùng với đó, Chỉ thị về khả năng tiếp cận trên web (Web Accessibility Directive) yêu cầu các website và ứng dụng công phải “có thể nhận biết, vận hành, hiểu được và bền vững” với mọi người dùng, một chuẩn mực mang tính hệ thống.

Ở tầm toàn cầu, Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) khẳng định: Tiếp cận công nghệ thông tin là một quyền con người cơ bản, và các quốc gia phải đảm bảo điều đó trên cơ sở bình đẳng. Có lẽ Tôi là một người khuyết tật nên Tôi luôn luôn lấy nguyên tắc cốt lõi, trong CRPD rằng "Không có gì liên quan đến chúng ta, mà không có chúng ta" (Nothing About Us Without Us) để tự đặt câu hỏi cho mình: Việt Nam đang ở đâu trong dòng chảy ấy? Rồi tôi nhận ra rằng chúng ta không đứng ngoài, nhưng cũng chưa đi đủ xa.

Khi dịch vụ công, ngân hàng, giáo dục… đồng loạt số hóa, nếu không có tiêu chuẩn bắt buộc, thì mỗi nền tảng sẽ “tự quyết” mức độ tiếp cận. Và hệ quả là một thực tế rời rạc: có nơi làm tốt, có nơi gần như bỏ trống. Khoảng cách đó - chính là “Khoảng cách số” (Digital Divide) - đã không chỉ là khoảng cách thiết bị, mà là khoảng cách làm mất đi cơ hội của những người yếu thế, đặc biệt là những người khuyết tật như dị dạng khuôn mặt hay mất chi trên, bàn tay khiếm khuyết dẫn đến mất dấu vân tay.

Có bao giờ bạn dừng lại quan sát chiếc cần gạt nước ở lavabo hay không? Nó thiết kế rất đơn giản nhưng lại đạt tiêu chí Designed for all (thiết kế cho tất cả) dù là một người không có khiếm khuyết, một đứa trẻ, thậm chí là người có bị mất cả 2 tay đến tận bả vai, thì người khuyết tật đó vẫn có thể dùng cằm, chùng chân... để gạt được cái cần gạt nước đó, một thiết kế rất nhỏ thôi nhưng tính nhân văn thì vô cùng lớn lao. Nếu coi công nghệ là hạ tầng của xã hội hiện đại, thì tính tiếp cận phải được coi như việc cung cấp điện, nước, không thể thiếu, không thể tùy chọn. Để đạt được việc tiếp cận cho tất cả, trước hết những người làm chính sách cần Luật hóa tiêu chuẩn tiếp cận số như xây dựng quy định tương tự ADA hoặc EAA , bắt buộc website, ứng dụng, dịch vụ công phải đạt chuẩn tiếp cận và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế về tiếp cận công nghệ vào hệ thống pháp luật.

Không để sinh trắc học trở thành “cửa duy nhất”

Mọi hệ thống xác thực (khuôn mặt, vân tay) phải có phương án thay thế (Ví dụ: mã OTP, xác thực qua nhân viên, hoặc thiết bị hỗ trợ). Để làm được những điều như trên cần có các chuyên gia là người khuyết tật cùng tham gia trải nghiệm và đồng hành trong việc thiết kế phổ dụng với nguyên tắc: Không thiết kế “cho họ”, mà thiết kế “cùng họ”. Cần có các chính sách hỗ trợ thỏa đáng cho cá nhân, doanh nghiệp phát triển phần mềm tiếp cận và cần cả tính đến việc trợ giá thiết bị hỗ trợ cho người khuyết tật giúp cuộc sống của họ trở nên dễ dàng hơn.

Khi câu khẩu hiệu “Khách hàng là thượng đế” được nhắc đến trong mọi dịch vụ, thì cần công khai mức độ tiếp cận của các nền tảng, và đảm bảo có kênh khiếu nại và xử phạt nếu vi phạm.

Một xã hội văn minh không được đo bằng tốc độ công nghệ, mà bằng việc có ai bị bỏ lại phía sau. Công nghệ sẽ tiếp tục tiến lên, nhanh hơn, thông minh hơn. Nhưng nếu nó không đủ bao dung, thì mỗi bước tiến ấy cũng có thể là một bước lùi đối với những người yếu thế. Và khi một người khuyết tật có thể đăng nhập, thanh toán, học tập, làm việc… mà không gặp bất kỳ rào cản nào, đó không chỉ là thành công của công nghệ. Đó là thành công của một xã hội biết thiết kế cho con người, chứ không phải chọn lọc con người để phù hợp với thiết kế.

• Hội chứng Moebius: Do dây thần kinh sọ (đặc biệt là dây VI và VII) không phát triển đầy đủ, người bệnh không thể cười, nhăn mặt, hoặc biểu lộ cảm xúc qua khuôn mặt từ khi sinh ra.

Trần Quốc Nam