Từng bước xây dựng thương hiệu 'Gạo Việt Xanh phát thải thấp'
Quản lý dinh dưỡng chính xác, phân bón cải tiến và tuần hoàn rơm rạ đang giúp Đồng bằng sông Cửu Long giảm phát thải, tăng lợi nhuận lúa gạo.
Chương trình “Fertilize Right - Global Fertilizer Challenge”, nhóm nghiên cứu của IRRI gồm: Nguyễn Văn Hùng, Tovohery Rakotoson, Nguyễn Hữu Diễm Hà, Trần Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Văn Tuấn, Ngô Đức Thế, Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Hà An, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Ngọc Mai, Đinh K Dung cùng nhiều đối tác trong nước và quốc tế đang phối hợp nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón trong sản xuất lúa.

Chương trình có sự hợp tác của USDA, Cục Bảo vệ thực vật, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đại học Cần Thơ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng nhiều doanh nghiệp phân bón và công nghệ nông nghiệp. Đây được xem là một trong những mạng lưới nghiên cứu lớn nhằm thúc đẩy mục tiêu phát triển một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng ĐBSCL.
Giảm phân bón nhưng vẫn tăng hiệu quả
Một trong những thực trạng đáng lo ngại hiện nay là nông dân vẫn có xu hướng sử dụng lượng phân đạm khá cao. Điều tra trên 10.000 nông dân ĐBSCL của IRRI năm 2024 cho thấy lượng đạm sử dụng thực tế dao động từ 50 - 200 kg/ha. Tuy nhiên, năng suất lúa gần như đạt ngưỡng bão hòa ở mức 70 - 100 kg đạm/ha.
Điều này đồng nghĩa việc bón vượt ngưỡng không giúp tăng năng suất mà còn gây thất thoát dinh dưỡng, tăng chi phí sản xuất và phát thải khí nhà kính.
Theo TS. Nguyễn Văn Hùng, Trưởng dự án USDA-Fertilize Right và S4I PNM Flagship tại Việt Nam, phát thải khí nhà kính từ phân bón hiện là một trong những vấn đề lớn của ngành lúa gạo.
TS, Nguyễn Văn Hùng cho biết, chi phí phân bón hiện chiếm khoảng 30% tổng chi phí canh tác lúa tại ĐBSCL. Nếu tối ưu được lượng phân sử dụng, nông dân có thể giảm đáng kể giá thành sản xuất, đồng thời góp phần giảm phát thải carbon.
“Quan trọng nhất là chuyển từ tư duy bón nhiều sang bón đúng. Khi áp dụng quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt và nguyên tắc 4 đúng, cây lúa hấp thu dinh dưỡng hiệu quả hơn, giảm thất thoát và vẫn đảm bảo năng suất”, ông Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh.

Trong quy trình kỹ thuật của chương trình một triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp, lượng giống gieo sạ được khuyến cáo giảm còn 70 - 80 kg/ha trước năm 2028 và dưới 70 kg/ha sau năm 2028.
Theo các chuyên gia, đây là bước chuyển quan trọng giúp thay đổi tập quán canh tác truyền thống vốn sử dụng lượng giống cao, bón phân dư thừa và ngập nước liên tục.
Phân bón cải tiến và công nghệ sinh học tạo khác biệt
Không dừng lại ở việc giảm lượng phân bón, chương trình còn tập trung vào phát triển các loại phân bón cải tiến theo hướng công nghệ xanh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phân bón thông thường khiến cây chỉ hấp thu được khoảng 40 - 60% dinh dưỡng, phần còn lại thất thoát qua bay hơi, rửa trôi hoặc cố định trong đất. Trong khi đó, các dòng phân bón cải tiến có thể nâng hiệu quả hấp thu lên trên 90%.
Các loại phân bón đang được nghiên cứu và thử nghiệm gồm phân bón tan chậm, phân bón có kiểm soát, phân bón sinh học, chất kích thích sinh trưởng sinh học và phân bón nano.
Bà Trần Thị Cẩm Nhung, thành viên nhóm nghiên cứu IRRI, cho rằng việc phát triển phân bón cải tiến không chỉ nhằm giảm chi phí mà còn giúp giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện chất lượng đất canh tác lâu dài.
“Hiệu quả của phân bón không chỉ tính bằng năng suất mà còn phải tính đến lượng khí phát thải, khả năng giữ dinh dưỡng trong đất và sức khỏe hệ sinh thái nông nghiệp”, bà Nhung chia sẻ.
Một hướng đi nổi bật khác là tận dụng rơm rạ để sản xuất phân hữu cơ. Thay vì đốt bỏ ngoài đồng gây ô nhiễm môi trường, rơm rạ được xử lý bằng công nghệ vi sinh kết hợp cơ giới hóa để tạo thành phân hữu cơ hoặc giá thể canh tác.

Ông Nguyễn Hữu Diễm Hà, thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết việc xử lý rơm bằng công nghệ vi sinh giúp thúc đẩy quá trình phân hủy nhanh hơn, giữ lại dinh dưỡng và giảm phát thải khí methane trên ruộng lúa.
“Đây là giải pháp rất phù hợp với định hướng nông nghiệp tuần hoàn. Rơm rạ sau thu hoạch không còn là phế phẩm mà trở thành nguồn tài nguyên dinh dưỡng cho đồng ruộng”, ông Hà nói.
Chuyển đổi số thúc đẩy nông nghiệp xanh
Bên cạnh giải pháp kỹ thuật đồng ruộng, chương trình còn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý dinh dưỡng và kết nối chuỗi giá trị.
IRRI cùng các đối tác đã xây dựng bản đồ đất – dinh dưỡng cho vùng ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng dựa trên dữ liệu loại đất, địa hình, nhiệt độ, lượng mưa và thông tin dinh dưỡng thực địa.
Theo nhóm nghiên cứu, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào phân tích dữ liệu giúp xây dựng các khuyến cáo bón phân phù hợp theo từng vùng đất và mùa vụ cụ thể.

Tại nhiều địa phương như Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Sóc Trăng, mô hình cơ giới hóa sạ hàng kết hợp vùi phân đang cho kết quả tích cực. Theo số liệu từ các mô hình thí điểm giai đoạn 2024 - 2026, lượng giống có thể giảm còn 50 - 60 kg/ha, lượng đạm giảm khoảng 30%, thuốc bảo vệ thực vật giảm trên 20% nhưng năng suất vẫn tăng khoảng 5%.
Đặc biệt, mô hình còn giúp giảm đổ ngã, giảm thất thoát sau thu hoạch và giảm phát thải khí nhà kính đáng kể.
Ông Nguyễn Văn Tuấn, thành viên nhóm nghiên cứu, nhận định việc mở rộng sản xuất lúa xanh cần đi cùng liên kết chuỗi giá trị giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp phân bón, doanh nghiệp cơ giới hóa và đơn vị xuất khẩu.
Theo ông Tuấn, khi nông dân tham gia mô hình sản xuất phát thải thấp, giá trị hạt gạo không chỉ đến từ năng suất mà còn góp phần từng bước xây dựng thương hiệu “Gạo Việt Xanh phát thải thấp”, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu tiêu chuẩn cao.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt và thị trường quốc tế siết chặt tiêu chí phát thải carbon, những giải pháp sử dụng phân bón theo hướng công nghệ xanh đang trở thành chìa khóa quan trọng để ngành lúa gạo Việt Nam chuyển đổi bền vững. Từ những cánh đồng ở ĐBSCL, mô hình sản xuất lúa giảm phát thải đang từng bước định hình một nền nông nghiệp hiện đại hơn, hiệu quả hơn và thân thiện hơn với môi trường.