Thời sự

Phát triển công nghiệp công nghệ số cần gỡ bỏ rào cản thủ tục hành chính

Nam Phong 14/05/2026 20:01

Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số đặt mục tiêu đạt 300 tỉ USD vào năm 2030 để tạo động lực đột phá đưa Việt Nam trở thành quốc gia tự cường.

Chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Chính phủ ban hành tại Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/2026. Văn bản mang tính bản lề này đặt ra những mục tiêu rất cao về doanh thu và quy mô doanh nghiệp. Để làm rõ hơn về tính khả thi cũng như những rào cản thực tế, Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với Ths. Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS), chuyên gia trong lĩnh vực quản trị nhà nước và chính sách công.

Mục tiêu 300 tỉ USD và bài toán thực thi thị trường

- Thưa ông, mục tiêu doanh thu 300 tỉ USD và 100.000 doanh nghiệp công nghệ số vào năm 2030 có quá tham vọng không?

Ths. Nguyễn Quang Đồng: Đầu tiên, phải khẳng định rằng việc đặt ra một mục tiêu tham vọng là điều rất đáng hoan nghênh. Trong bối cảnh mới, khi Nghị quyết Đại hội Đảng đã xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính, thì con số 300 tỉ USD đóng vai trò như một "ngọn hải đăng" định hướng. Nếu không có đội ngũ doanh nghiệp công nghệ hùng hậu, Việt Nam khó có thể đạt được mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn tới phụ thuộc rất lớn vào năng suất, mà chỉ có ngành công nghiệp công nghệ số mới đủ khả năng tạo ra sự đột phá về năng suất lao động quốc gia.

công nghiệp công nghệ số
Ths. Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng IPS. Ảnh IPS.

Tuy nhiên, nếu đi sâu vào khía cạnh định lượng, chúng ta cần nhìn nhận một thực tế là các căn cứ để đánh giá hiện nay vẫn còn khá mỏng. Định nghĩa về "doanh nghiệp khoa học công nghệ" hay "doanh nghiệp công nghệ số" vẫn chưa thực sự rành rọt về mặt luật định.

Việc tính toán xem chuyển đổi số đóng góp bao nhiêu phần trăm vào GDP đã là chủ đề tranh luận suốt 5 năm qua trên toàn thế giới mà vẫn chưa có sự thống nhất khoa học. Do đó, tôi cho rằng chúng ta nên tạm thời không quá sa đà vào các con số tỉ USD đóng góp GDP mà nên tập trung hướng đến mục tiêu về số lượng doanh nghiệp thực chất.

- Thực tế hiện nay khối FDI vẫn chiếm tỉ trọng áp đảo trong ngành ICT, vậy khả năng hiện thực hóa con số 300 tỉ USD cho khối nội địa liệu có khả thi, thưa ông?

Ths. Nguyễn Quang Đồng: Ở đây có hai góc nhìn cần tách biệt. Một là góc nhìn từ xuất khẩu hàng hóa hữu hình, đúng là doanh nghiệp nội địa Việt Nam còn rất khiêm tốn. Chúng ta khó có khả năng chen chân vào thị trường phần cứng hay sản xuất chip bán dẫn – nơi vốn là sân chơi của những "ông lớn" như Samsung hay Foxconn.

Thế nhưng, góc nhìn thứ hai lại cho thấy tiềm năng cực lớn: thế mạnh của Việt Nam không nằm ở phần cứng mà nằm ở sản phẩm phần mềm và nội dung số. Ví dụ điển hình là ngành Game Mobile. Các sản phẩm trò chơi điện tử trên di động của người Việt đang nằm trong nhóm top đầu thế giới về lượt tải về và số lượng người chơi.

Điều này minh chứng rằng khả năng phát triển ra thị trường quốc tế của chúng ta là có thật, nhưng nó rơi vào mảng dịch vụ và nội dung số. Cái khó của chúng ta hiện nay là những ngành này rất khó đo đếm bằng con số định lượng truyền thống. Hơn nữa, vì nhiều rào cản, không ít doanh nghiệp khởi nghiệp thành công của người Việt lại đang đăng ký pháp nhân tại Singapore hay các nước khác, khiến đóng góp của họ không thể hiện hết vào số liệu thống kê trong nước.

Thay đổi tư duy quản trị tài chính trong công nghiệp công nghệ số

- Để thúc đẩy những doanh nghiệp này "ở lại" và phát triển, Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ 500.000 doanh nghiệp SME chuyển đổi số. Theo ông, điều này tạo ra cơ hội gì?

Ths. Nguyễn Quang Đồng: Doanh nghiệp muốn phát triển thì bắt buộc phải có thị trường. Nhà nước đóng vai trò trung gian kết nối giữa cung và cầu thông qua các chương trình hỗ trợ. Hãy hình dung một tòa soạn báo muốn áp dụng AI vào vận hành nhưng thiếu kinh phí, trong khi ngoài kia có những doanh nghiệp công nghệ nội địa có giải pháp AI báo chí nhưng lại thiếu khách hàng.

Nhà nước dùng tiền ngân sách tài trợ cho doanh nghiệp SME mua sản phẩm của doanh nghiệp công nghệ nội địa là một hướng đi đúng đắn để kích cầu thị trường.

Thế nhưng, thách thức lớn nhất không phải là tiền mà là khâu thực thi. Làm thế nào để biết sản phẩm của đơn vị A là tốt và xứng đáng được đưa vào danh mục hỗ trợ? Nếu không làm tốt khâu này, tiền tung ra sẽ gây lãng phí rất lớn. Chúng ta cần nhớ rằng nguồn lực ngân sách là có hạn. Một đồng hỗ trợ cho ngành công nghiệp công nghệ số nghĩa là một đồng khác ở ngành nông nghiệp hay sản xuất thực phẩm đã bị mất đi. Vì vậy, sự đánh đổi này phải mang lại tính hiệu quả thực chất.

unnamed(1).jpg

Thế mạnh của Việt Nam không nằm ở phần cứng hay chip bán dẫn mà nằm ở dịch vụ và nội dung số - nơi người Việt đang đứng top đầu thế giới, nhưng rào cản thể chế hiện nay lại đang khiến nhiều doanh nghiệp thành công phải chọn đăng ký pháp nhân ở nước ngoài

Ths. Nguyễn Quang Đồng

- Nói đến ngân sách, ông có nhận định gì về cơ chế bảo đảm 100% kinh phí chi thường xuyên cho các đơn vị hạt nhân trong giai đoạn đầu?

Ths. Nguyễn Quang Đồng: Tôi cho rằng việc hỗ trợ 100% kinh phí vận hành trong giai đoạn đầu là hợp lý, bởi lúc mới bắt đầu, doanh nghiệp thường chưa có thị trường và nguồn thu ổn định. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là làm thế nào để chọn ra được những đơn vị thực sự xứng đáng để đưa vào diện "hạt nhân".

Nếu chúng ta không có những hội đồng chuyên môn thực thụ, khách quan, nguồn tiền hỗ trợ này rất dễ đổ vào các "doanh nghiệp thân hữu", dẫn đến tình trạng "chỉ tiêu tiền chứ không tạo ra giá trị".

Tháo gỡ rào cản hành chính và "quyền được thất bại"

- Một vấn đề nan giải là làm sao để bảo vệ nhà khoa học trước các quy định khắt khe của ngân sách nhà nước khi họ tham gia vào những nghiên cứu mạo hiểm?

Ths. Nguyễn Quang Đồng: Đây chính là nút thắt lớn nhất. Lâu nay, vì lo ngại sử dụng không hiệu quả ngân sách, chúng ta kiểm soát nghiên cứu khoa học bằng quy trình hành chính vô cùng nặng nề. Từ đấu thầu, mua sắm đến quyết toán, tất cả đều dựa trên hệ thống giấy tờ phức tạp. Quy định này tạo ra một gánh nặng khủng khiếp cho cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp.

Chúng ta cần phải thay đổi phương pháp quản lý: chuyển mạnh từ quản lý quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra. Nhà khoa học cam kết sản phẩm cuối cùng, và hội đồng chuyên môn sẽ đánh giá dựa trên các chuẩn mực khoa học. Chúng ta phải chấp nhận một thực tế rằng sản phẩm nghiên cứu có thể thành công hoặc thất bại trên thị trường. Nếu sản phẩm đi đúng tiến trình khoa học nhưng không "trúng" thị trường, đó là rủi ro bình thường trong đổi mới sáng tạo, không nên là căn cứ để truy cứu trách nhiệm theo kiểu hành chính thông thường. Khi gỡ được "nỗi sợ sai" này, chúng ta mới có thể thúc đẩy nghiên cứu mạo hiểm.

- Đối với các doanh nghiệp Spin-off từ trường đại học, ông thấy họ gặp khó khăn gì khi tiếp cận nguồn vốn mạo hiểm?

Ths. Nguyễn Quang Đồng: Vấn đề cuối cùng vẫn quay về thủ tục giấy tờ. Hệ thống quản lý của chúng ta đang đặt ra khối lượng công việc hành chính quá lớn cho một dự án nghiên cứu. Các quy định về tài chính, chuẩn mực kế toán quá chặt chẽ và xơ cứng đã vô tình đẻ ra thêm nhiều khối lượng công việc không tên, trở thành rào cản ngăn bước các doanh nghiệp Spin-off tiếp cận vốn. Muốn hỗ trợ đào tạo 50.000 kỹ sư hay phát triển doanh nghiệp từ trường đại học, cái cần gỡ đầu tiên phải là những thủ tục hành chính này.

- Để đạt được tầm nhìn đến năm 2045, đâu là rào cản tư duy quản trị lớn nhất mà Việt Nam cần thay đổi ngay từ bây giờ?

Ths. Nguyễn Quang Đồng: Tôi cho rằng mô hình đầu tư cho khoa học công nghệ của Việt Nam hiện nay đang bị "lạc giới" so với thế giới. Mặc dù chúng ta đã nói nhiều về đổi mới sáng tạo, nhưng cách tiếp cận của chúng ta vẫn chưa thực sự dựa trên định hướng thị trường. Ở các quốc gia phát triển, thị trường mới là nơi đánh giá kết quả cuối cùng của một công trình nghiên cứu. Họ thiết kế lộ trình rất rõ ràng từ nghiên cứu cơ bản đến thương mại hóa, và mỗi bước đi đều có sự cạnh tranh sòng phẳng.

Tại Việt Nam, dường như cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp vẫn còn thói quen dựa vào nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước theo kiểu bao cấp, dẫn đến việc nghiên cứu thiếu tính thực tiễn và dễ thất bại khi bước ra thị trường cạnh tranh. Chúng ta cần chuyển dịch tư duy quản lý theo hướng lấy thị trường làm thước đo trung tâm. Chỉ khi đó, các chính sách hỗ trợ mới thực sự phát huy tác dụng và ngành công nghiệp công nghệ số mới có thể trở thành "cỗ máy" đưa Việt Nam bứt phá.

- Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò truyện này!

Nam Phong