Làm chủ vật liệu chiến lược: Khẳng định chủ quyền và vị thế quốc gia
GS.VS Đặng Vũ Minh phác thảo lộ trình chiến lược: Chuyển dịch từ tư duy khai thác tài nguyên thô sang làm chủ chuỗi giá trị công nghệ, biến tiềm năng địa chất thành sức mạnh cạnh tranh bền vững.
Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ với các biến động phức tạp về chuỗi cung ứng, việc làm chủ các loại vật liệu chiến lược đã trở thành yếu tố sống còn để khẳng định sức mạnh quốc gia, đảm bảo độc lập kinh tế và tạo đà bứt phá trong kỷ nguyên số. Trao đổi về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Vũ Minh, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, đã phác thảo lộ trình chiến lược nhằm chuyển đổi vị thế Việt Nam từ một quốc gia giàu tài nguyên trở thành đối tác có nền tảng vững chắc về khoa học cơ bản để từng bước tự chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.

Từ tư duy tài nguyên đến làm chủ vật liệu chiến lược
Việc làm chủ các loại vật liệu chiến lược là "trái tim" của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong thời đại mà các ngành công nghiệp cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo… đang dẫn dắt nền kinh tế, vật liệu không còn là những yếu tố phụ trợ mà đã trở thành nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.
GS. Đặng Vũ Minh khẳng định, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhìn nhận tài nguyên khoáng sản không chỉ là hàng hóa, mà là tài sản chiến lược. Đối với đất hiếm - loại vật liệu nền tảng cho xe điện, năng lượng sạch (sử dụng bốn nguyên tố Nd, Pr, Dy, Tb), hay các thiết bị LED (sử dụng chủ yếu ba nguyên tố Y, Eu, Tb), nước ta là một trong số những nước đang sở hữu tiềm năng hàng đầu thế giới với các mỏ đất hiếm tại Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai. Tuy nhiên, việc khai thác và xuất khẩu dưới dạng quặng hoặc tinh quặng sơ cấp thực chất chỉ là bán đi phần giá trị thấp nhất. Giá trị cốt lõi chính là nằm ở công nghệ tách chiết, tinh luyện đến độ sạch cao, chế tạo kim loại, hợp kim từ tính, vật liệu phát quang và các linh kiện công nghệ cao. Nếu tiếp tục con đường xuất khẩu tài nguyên thô, Việt Nam sẽ không chỉ mất đi giá trị gia tăng to lớn mà còn bỏ lỡ cơ hội vàng để xây dựng năng lực công nghiệp nội sinh.
Theo GS. Đặng Vũ Minh, việc thể chế hóa nguyên tắc “không xuất thô” thành chính sách quốc gia là mệnh lệnh cấp bách. Điều này không có nghĩa là đóng cửa thị trường mà chính là thực thi việc chỉ cho phép khai thác và xuất khẩu khi dự án gắn với chế biến sâu trong nước. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó đặt yêu cầu cao nhất là làm chủ các công nghệ chiến lược. Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục công nghệ chiến lược chính là cú hích quan trọng, đánh dấu sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy khai thác tài nguyên thô sang tư duy xây dựng công nghệ chiến lược quốc gia.

Để thực hiện điều này, cần xây dựng chương trình khoa học - công nghệ trọng điểm quốc gia, phủ kín toàn bộ chuỗi giá trị từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến chế biến vật liệu và thương mại hóa. Bên cạnh đó, cần hình thành các tổ hợp chế biến sâu như tổ hợp gắn với mỏ đất hiếm Đông Pao (Lai Châu) để tạo ra hệ sinh thái công nghiệp vật liệu gắn liền với công nghệ cao.
Quản trị tài sản quốc gia bằng tư duy số
Khai thác tài nguyên "bằng mọi giá" là tư duy đã lỗi thời và có thể gây ra những hệ lụy khôn lường. GS. Đặng Vũ Minh khẳng định, tài nguyên khoáng sản là tài sản quốc gia hữu hạn, không tái tạo. Vì vậy, việc khai thác không thể chỉ dừng lại ở việc đạt các chỉ số ngắn hạn như sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu mà phải được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp trên các mặt kinh tế, công nghệ, môi trường, xã hội và an ninh chiến lược.
Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam cần chuyển tư duy từ “khai thác khoáng sản” sang “quản trị tài sản chiến lược quốc gia”. Để đảm bảo sự phát triển bền vững, ông đề xuất bộ tiêu chí lựa chọn dự án theo chuẩn ESG quốc tế. Trước hết, chỉ cấp phép khi dự án đảm bảo phương án chế biến sâu tại chỗ. Tiếp đó, công nghệ phải đạt chuẩn tiên tiến, tiết kiệm năng lượng và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Cuối cùng là tiêu chí môi trường - xã hội: phải có kế hoạch phục hồi sinh thái, quản lý nguồn nước và đảm bảo sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Một giải pháp mang tính đột phá là xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu mỏ hiện đại, số hóa và liên thông thời gian thực. Cần xây dựng mô hình “hộ chiếu số mỏ” cho từng mỏ chiến lược. Với mô hình này, mỗi mỏ sẽ có một hồ sơ dữ liệu xuyên suốt vòng đời, từ thăm dò, cấp phép, khai thác, chế biến cho đến đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường. Các công nghệ tiên tiến như GIS, viễn thám, cảm biến môi trường và ảnh vệ tinh sẽ là những trợ thủ đắc lực để cập nhật dữ liệu. Đây chính là một trong số những biện pháp đê cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn bằng cách chuyển từ “xử lý chất thải” sang “tài nguyên thứ cấp”. Thí dụ, bùn đỏ trong sản xuất alumin, thay vì chôn lấp có thể trở thành nguyên liệu sản xuất xi măng, vật liệu geopolymer, vật liệu hấp phụ, thậm chí là vật liệu chống bức xạ… Đây chính là minh chứng cho việc ứng dụng khoa học vật liệu để tạo giá trị từ những thứ tưởng chừng như vô dụng, bảo đảm nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Định vị trong chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu
Đặt trong bài toán địa chính trị thế giới, bán dẫn và pin lưu trữ năng lượng hiện đang là hai trụ cột có ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Bán dẫn là bộ não của kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa.Trong khi đó, pin lưu trữ năng lượng là trái tim của cuộc cách mạng xanh và an ninh năng lượng.

Theo GS. Đặng Vũ Minh, nếu ưu tiên phát triển hai dòng vật liệu này, nước ta hoàn toàn có thể chuyển mình từ một "công xưởng" gia công - lắp ráp thành một mắt xích có giá trị cao, bền vững trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu. Hiện nay, với vị thế địa chính trị thuận lợi và môi trường đầu tư hấp dẫn, nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội lớn. Tuy nhiên, điểm yếu cần khắc phục chính là sự phụ thuộc vào công nghệ và hóa chất nhập khẩu. Thay vì đặt mục tiêu ngay lập tức cạnh tranh trong việc chế tạo những con chip logic tiên tiến nhất, chúng ta nên đi từ vật liệu nền, hóa chất siêu tinh khiết, đóng gói tiên tiến, chip công suất và các hệ thống cảm biến.
Đối với lĩnh vực pin lưu trữ năng lượng, nước ta có lợi thế tự nhiên nhờ nguồn khoáng sản như graphite, niken, coban, đồng… Đây là nền tảng để phát triển các loại pin hiệu suất cao, pin thể rắn và vật liệu điện cực thế hệ mới. Việc phát triển hai dòng vật liệu này giúp nước ta định vị ở ba vai trò chiến lược: trở thành điểm đến tin cậy để đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu, là nhà cung ứng vật liệu chiến lược cho các ngành công nghệ cao và là đối tác quan trọng trong các liên minh sản xuất xanh.
Để đạt được mục tiêu này, theo GS. Đặng Vũ Minh, vai trò của khối kinh tế tư nhân là đặc biệt quan trọng. Đúng như tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, phần lớn các đột phá vật liệu trên thế giới hiện nay đều đến từ các doanh nghiệp startup công nghệ sâu (deep-tech). Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thể chế và đầu tư hạ tầng nghiên cứu (phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm thử nghiệm pilot), trong khi doanh nghiệp phải là lực lượng xung kích để thương mại hóa và mở rộng thị trường.
"Chúng ta có thể trở thành một 'nút vật liệu chiến lược' của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi không chỉ thu hút nhà máy lắp ráp, mà là nơi hội tụ của R&D, các cơ sở sản xuất và tái chế tiên tiến", GS. Đặng Vũ Minh nhận định. Đây chính là vị thế cao hơn, bền vững hơn và khó bị thay thế hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tầm nhìn đến năm 2030: Hành trình của sự tự cường
Nhìn lại cả hành trình, việc làm chủ công nghiệp vật liệu không phải là một nhiệm vụ có thể hoàn thành trong một sớm một chiều. Đó là một cuộc chạy đua gay gắt, đòi hỏi sự kiên trì, đầu tư bài bản và sự đồng bộ từ chính sách đến thực thi.
Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm không khai thác tài nguyên 'bằng mọi giá'. Tài nguyên khoáng sản là tài sản quốc gia hữu hạn, không tái tạo trong thang thời gian của con người
GS.VS Đặng Vũ Minh
GS. Đặng Vũ Minh nhấn mạnh rằng: "Tự chủ chiến lược không có nghĩa là tự làm tất cả mọi thứ". Trong thế giới phẳng, tự chủ được hiểu là khả năng làm chủ những mắt xích cốt lõi nhất, có năng lực thay thế khi chuỗi cung ứng biến động và đủ sức mạnh công nghệ để không bao giờ bị rơi vào thế bị động. Nhằm mục đích đến năm 2030 Việt Nam có thể khẳng định vị thế trên bản đồ công nghệ khu vực, cơ quan hoạch định chính sách cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp: hoàn thiện thể chế ưu tiên; nâng cấp hạ tầng nghiên cứu và trung tâm pilot; phát triển tổ hợp chế biến sâu tích hợp; thiết lập cơ chế đặt hàng dài hạn từ Chính phủ; cuối cùng là phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với tri thức (know-how) quốc tế.
Tất cả những nỗ lực này không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế mà còn là hành trình khẳng định sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên số. Sức mạnh của một dân tộc trong thời đại mới được đo đếm bằng khả năng hiện thực hóa các ý tưởng vật liệu thành những sản phẩm có giá trị cao, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế đất nước. Khi mỗi mắt xích trong tam giác chính sách - khoa học - doanh nghiệp cùng nhìn về một hướng cũng chính là lúc nước ta tạo ra được sức mạnh tổng lực để vươn mình.
Tài nguyên khoáng sản, sau nhiều thập kỷ được coi là tài sản để xuất khẩu, giờ đây đang đứng trước cơ hội chuyển hóa thành công cụ chiến lược để kiến tạo một nền công nghiệp tự chủ, thịnh vượng. Một khi Việt Nam thực sự làm chủ được công nghiệp vật liệu, chúng ta sẽ không còn chỉ là một mắt xích trong chuỗi cung ứng mà sẽ là một trung tâm công nghệ vật liệu mới, một thực thể quan trọng và không thể thay thế trong bức tranh công nghệ toàn cầu. Đó chính là khát vọng và cũng là mục đích của một quốc gia tự cường, nơi mỗi tài nguyên đều được trân trọng và mỗi trí tuệ đều được phát huy tối đa để phục vụ cho sự phồn vinh của dân tộc.
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Vũ Minh (sinh ngày 11 tháng 9 năm 1946), Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Nga.
Ông nguyên là Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, IX, X, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.