Kinh tế

Xuất khẩu thủy sản đạt 4,67 tỉ USD, tăng trưởng nhưng đối mặt nhiều áp lực

Thế Lâm 04/06/2026 08:00

Trong 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 4,67 tỉ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, riêng tháng 5 đạt 1,02 tỉ USD, tăng nhẹ 0,6%.

Mức tăng 2 con số phản ánh một sự tích cực trong bối cảnh rất nhiều áp lực từ cả trong và ngoài nước. Trong nước là áp lực về nguồn cung nguyên liệu, trong khi ngoài nước chính là biến động địa chính trị tại Trung Đông khiến đường vận tải biển bị ách tắc tại vùng eo biển Hormuz, giá nhiên liệu tăng cao đẩy chi phí vận tải tăng mạnh cùng với nhiều loại chi phí khác.

Bên cạnh đó, tại một số thị trường như Mỹ, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đang đối mặt với thuế chống bán phá giá, các quy định mới về nguồn gốc xuất xứ với yêu cầu tuân thủ cao hơn, cùng như áp lực cạnh tranh giá từ một số quốc gia đối thủ.

Tôm chiếm hơn 40% kim ngạch xuất khẩu thủy sản

Trong 5 tháng đầu năm, tôm tiếp tục là mặt hàng thủy sản xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 1,9 tỉ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 40,4% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

Đóng góp vào đà tăng của mặt hàng tôm xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm đến từ một số thị trường châu Á, như Trung Quốc, HongKong. Các thị trường này đạt mức tăng trưởng mạnh so với nhóm thị trường còn lại, và có cao với nhóm sản phẩm tôm chế biến và tôm hùm.

Tuy nhiên, biến số về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng tôm được cho là có thể xảy ra những diễn biến ngoài ý muốn nếu một số thách thức không được xử lý tốt. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (VASEP) cho biết, tại một số thị trường người tiêu dùng có xu hướng tiết kiệm, dẫn tới tiêu thụ loại tôm cỡ nhỏ hơn hợp túi tiền hơn, trong khi nguyên liệu trong nước thì lại thiên về nuôi tôm kích cỡ to nhằm tối ưu giá bán.

xuất khẩu thủy sản tôm quý I.2026-5
Tôm chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất 5 tháng đầu năm 2026. Nguồn: VASEP.

Nhưng vấn đề lớn hơn có lẽ đến từ bên ngoài. Tôm Việt Nam trong thời gian qua đã giảm lượng xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Tại thị trường này, áp lực cạnh tranh về giá ngày càng gia tăng trước các đối thủ từ Ecuador, Ấn Độ và Indonesia vốn cũng có lợi thế về giá. Ngoài ra, các biện pháp phòng vệ thương mại của quốc gia sở tại, cụ thể là thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các kỳ rà soát hành chính, đang khiến doanh nghiệp xuất khẩu tôm đối mặt với những rào cản và khó khăn.

Kim ngạch xuất khẩu cá tra tăng mạnh nhưng áp lực về nguyên liệu và giá vốn

Mặt hàng cá tra xuất khẩu đạt 905 triệu USD trong 5 tháng đầu năm, tăng 12,6%. Nhìn chung, mặt hàng cá tra xuất khẩu của Việt Nam vốn có nền tảng và ưu thế tích lũy từ nhiều năm qua, hiện đã lan tỏa đến hơn 100 thị trường trên toàn cầu. Một lợi thế của cá tra Việt Nam xuất khẩu là mức giá vừa phải hợp túi tiền người tiêu dùng tại hầu hết các thị trường, thuộc nhóm cá thịt trắng được tiêu dùng phổ biến, và cũng tương đối dễ chế biến món trong bữa ăn gia đình.

Ngành chế biến thủy sản được cho là sẽ được hưởng lợi từ mức thuế đối ứng mới của Mỹ.

Thế nhưng những tháng gần đây, áp lực nảy sinh đối các nhà máy chế biến là nguồn nguyên liệu cá giống, cùng với giá thức ăn, vận chuyển đầu vào đều tăng làm gia tăng chi phí vốn ảnh hưởng đến giá thành, qua đó bào mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Tình trạng thiếu nguyên liệu đã diễn ra tại một số vùng khiến nhà máy phải tăng giá thu mua.

Thị trường Trung Quốc đang cho thấy có dấu hiệu hồi phục. Trong khi đó, tại thị trường Mỹ, doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với thuế chống bán phá giá, các điều tra thương mại và yêu cầu về tuân thủ.

VASEP: xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt trên 12 tỉ USD

Từ kết quả 5 tháng đầu năm, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt mức tăng trưởng khoảng 8-10%, kim ngạch trên 12 tỉ USD, nếu Trung Quốc tiếp tục duy trì nhu cầu tốt, cá tra giữ được lợi thế giá, tôm cải thiện khả năng cạnh tranh, nhóm hải sản tháo gỡ được vướng mắc về IUU, chứng nhận nguyên liệu và truy xuất.

Ngược lại, nếu chi phí tuân thủ, logistics, phòng vệ thương mại và thiếu nguyên liệu kéo dài, tăng trưởng nửa cuối năm sẽ chậm lại, nhất là với tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và các nhóm hải sản khai thác.

Nhóm hải sản khác: Ảnh hưởng từ logistics và yêu cầu chứng nhận nguồn gốc

Theo nhận định từ VASEP, nhóm hải sản khác có tín hiệu tích cực nhưng chưa hết rủi ro. Mặt hàng mực, bạch tuộc đạt 304 triệu USD, tăng 18%; cua ghẹ và giáp xác khác đạt 160 triệu USD, tăng 19%; nhuyễn thể có vỏ đạt 122 triệu USD, tăng 22,8%. Các nhóm mặt hàng này có cơ hội tại những thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU, đặc biệt là đối với loại sản phẩm chế biến, tiện lợi và giá trị cao.

Một cơ hội đáng chú ý cho cá tra
là diễn biến nguồn cung cá thịt trắng thế giới. Sản lượng cá minh thái giảm khoảng
30%, trong khi chi phí nhiên liệu tăng mạnh làm giá nguyên liệu tăng 30–50%. Điều
này khiến nhà nhập khẩu lo ngại thiếu nguồn cung và có xu hướng dịch chuyển một
phần nhu cầu sang các loài cá nuôi có nguồn cung ổn định hơn. Cá tra Việt Nam
cùng với cá rô phi có cơ hội hưởng lợi, nếu duy trì được nguồn nguyên liệu, kiểm
soát chất lượng vùng nuôi và giữ được lợi thế cạnh tranh về giá.

VASEP

Tuy nhiên, cũng theo VASEP, điểm yếu lớn nhất của nhóm hải sản khác là phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu khai thác và nguyên liệu nhập khẩu hợp pháp. Từ đó, doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí logistics cao khi giá nhiên liệu tăng mạnh. Cùng với đó, yêu cầu chứng nhận nguồn gốc ngày càng chặt cũng là một rào cản tác động trực tiếp đến sản lượng, giá nguyên liệu và tiến độ giao hàng.

Trung Quốc và Hồng Kông là thị trường lớn nhất

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 5 tháng đầu năm, Trung Quốc và Hồng Kông là thị trường đóng góp kim ngạch lớn nhất, đạt 1,2 tỉ USD. Thị trường này cũng tạo ra động lực tăng trưởng lớn nhất, khi tăng trưởng tới 40,5% so với cùng kỳ.

Theo thông tin từ VASEP, thị trường Trung Quốc từ ngày 1/6/2026 sẽ có quy định kiểm soát chặt chẽ hơn về chất lượng, an toàn sinh học, đăng ký doanh nghiệp, mã số vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc. Lệnh 280 có hiệu lực từ thời điểm trên thay thế Lệnh 248 chính là một yêu cầu chuẩn hóa chất lượng xuất khẩu đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Các thị trường còn lại, thị trường Mỹ giảm 10%, EU giảm 2,2%; trong khi đó thị trường Nhật Bản tăng 0,4%, Hàn Quốc tăng 4%, ASEAN tăng 16,8%.

Thế Lâm