Doanh nghiệp

ĐBSCL: 'Đói' tín dụng xanh, thiếu nguồn để khơi thông?

Văn Kim Khanh 07/06/2026 09:21

Tín dụng xanh mở ra dòng vốn quan trọng giúp doanh nghiệp ĐBSCL chuyển đổi xanh nhưng còn nhiều rào cản cần tháo gỡ

Nhu cầu về tín dụng xanh ở ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng mạnh mẽ chưa từng có. Là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa gạo, hơn 65% thủy sản và gần 70% trái cây, khu vực này đồng thời cũng là “điểm nóng” chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu.

Hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Ảnh: T.L
Hướng phát triển xanh của doanh nghiệp trong tương lai. Ảnh: T.L

Theo các báo cáo mới nhất, Việt Nam cần khoảng 20 tỉ USD mỗi năm đến năm 2030 để phục vụ chuyển đổi xanh và thích ứng khí hậu. Riêng ĐBSCL, áp lực tài chính tập trung vào hai nhóm lớn: chi phí chống chịu thiệt hại và đầu tư hạ tầng thích ứng. Nếu không có giải pháp kịp thời, thiệt hại do biến đổi khí hậu có thể lên tới 17 tỉ USD từ nay đến năm 2030, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp.

Song song với đó, nhiều chương trình quy mô lớn đang được triển khai như dự án MERIT-WB11 (Dự án chống chịu khí hậu và Chuyển đổi tổng hợp vùng ĐBSCL) với tổng vốn hơn 740 triệu USD, cùng các gói ODA hàng tỉ USD cho hạ tầng giao thông, thủy lợi và sinh kế bền vững. Đây là minh chứng rõ ràng cho nhu cầu rất lớn về dòng vốn xanh tại khu vực.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy tín dụng xanh tại ĐBSCL mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Tổng dư nợ tín dụng xanh toàn vùng hiện đạt khoảng 8.998 tỉ đồng, trong đó Cần Thơ chiếm tới 8.591 tỉ đồng, tương đương hơn 95% toàn vùng. Điều này cho thấy sự mất cân đối trong phân bổ dòng vốn và tiềm năng chưa được khai thác ở các tỉnh còn lại.

Đặc biệt, năng lượng tái tạo hiện chiếm hơn 84% tổng dư nợ xanh, trong khi các lĩnh vực cốt lõi của ĐBSCL như nông nghiệp sinh thái, chế biến thực phẩm tuần hoàn và logistics xanh vẫn chưa được tiếp cận đủ vốn. Trong khi đó, tín dụng cho nông nghiệp – nông thôn đạt khoảng 643.000 tỉ đồng, nhưng chỉ một phần nhỏ thực sự gắn với tiêu chí xanh.

Rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở ba điểm: thiếu khung phân loại xanh chi tiết, năng lực ESG của doanh nghiệp còn yếu và thị trường tài chính xanh chưa phát triển đồng bộ.

Công nhân đang sản xuất của Lemit Foods. Ảnh: Văn Kim Khanh
Công nhân đang sản xuất của Lemit Foods. Ảnh: Văn Kim Khanh

Lemit Foods điển hình chuyển đổi xanh tại ĐBSCL

Lemit Foods tại Cần Thơ định hướng phát triển theo mô hình “chuyển đổi kép”: vừa xanh hóa sản xuất, vừa số hóa quản trị. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống MRV (đo lường – báo cáo – thẩm định) để theo dõi phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tối ưu chuỗi cung ứng. Đây là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn ESG và các rào cản kỹ thuật như CBAM của châu Âu.

Doanh nghiệp tập trung khai thác phụ phẩm nông nghiệp, đặc biệt là mít non – nguồn nguyên liệu tưởng chừng bị bỏ đi nhưng có tiềm năng kinh tế lớn. Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 382.500 tấn mít non bị lãng phí, gây phát thải hơn 2,1 triệu tấn CO₂ tương đương. Việc tái chế nguồn nguyên liệu này không chỉ giúp giảm ô nhiễm mà còn tạo ra sản phẩm thực phẩm có giá trị xuất khẩu.

Sản phẩm thịt
Sản phẩm thịt vật từ quả mít non của Lemit Foods. Ảnh: T.L

Le Mit Foods định hướng phát triển theo mô hình “chuyển đổi kép”: vừa xanh hóa sản xuất, vừa số hóa quản trị. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống MRV (đo lường – báo cáo – thẩm định) để theo dõi phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tối ưu chuỗi cung ứng. Đây là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn ESG và các rào cản kỹ thuật như CBAM của châu Âu.

Bà Cao Thị Cẩm Nhung, Giám đốc Lemit Foods, cho rằng: "Thách thức lớn nhất không nằm ở công nghệ mà ở việc tiếp cận vốn xanh. Các ngân hàng hiện yêu cầu chứng minh rõ ràng hiệu quả môi trường, nhưng chi phí xây dựng hệ thống dữ liệu ESG và đầu tư công nghệ ban đầu còn cao. Tuy nhiên, về dài hạn, mô hình này giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu".

Le Mit Foods cũng là minh chứng rõ ràng rằng doanh nghiệp địa phương hoàn toàn có thể tham gia chuỗi giá trị toàn cầu nếu đáp ứng được tiêu chuẩn xanh. Đây chính là cầu nối quan trọng giữa nhu cầu tín dụng xanh và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Giải pháp giúp doanh nghiệp ĐBSCL tiếp cận hiệu quả tín dụng xanh

Theo PGS. TS. Phạm Thị Tuyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ – Học viện Ngân hàng, để tín dụng xanh thực sự trở thành động lực phát triển của ĐBSCL, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp từ thể chế đến doanh nghiệp.

Thế giới đang hướng đến doanh nghiệp xanh để giảm bớt khí nhà kính. Ảnh: T.L
Thế giới đang hướng đến doanh nghiệp xanh để giảm bớt khí nhà kính. Ảnh: T.L

Trước hết, cần hoàn thiện khung phân loại xanh quốc gia theo hướng cụ thể hóa cho đặc thù vùng sông nước. Các lĩnh vực như nông nghiệp tuần hoàn, nuôi trồng thủy sản phát thải thấp, chế biến phụ phẩm cần được định nghĩa rõ ràng để ngân hàng dễ thẩm định và doanh nghiệp dễ tiếp cận.

Thứ hai, hệ thống ngân hàng cần phát triển các sản phẩm tín dụng xanh chuyên biệt cho ĐBSCL, bao gồm khoản vay dài hạn ưu đãi, tín dụng liên kết chuỗi giá trị và cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là nhóm chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp khu vực nhưng lại khó tiếp cận vốn lớn.

Thứ ba, doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực quản trị ESG. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường, xã hội và quản trị không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc nếu muốn tham gia chuỗi cung ứng quốc tế. Các mô hình như MRV cần được phổ cập để đo lường chính xác tác động môi trường.

Thứ tư, cần thúc đẩy hình thành hệ sinh thái tài chính xanh “5 nhà”: Nhà nước – ngân hàng – doanh nghiệp – viện trường – quỹ đầu tư. Khi các bên cùng tham gia, dòng vốn sẽ được khơi thông hiệu quả hơn, giảm rủi ro và tăng khả năng hấp thụ.

Cuối cùng, chuyển đổi số trong tài chính xanh cần được đẩy mạnh. Các nền tảng dữ liệu số về phát thải, truy xuất nguồn gốc và đánh giá ESG sẽ giúp rút ngắn thời gian thẩm định tín dụng, đồng thời tăng tính minh bạch trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Tín dụng xanh không chỉ là xu hướng tài chính mà là điều kiện sống còn trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế ĐBSCL. Khi doanh nghiệp như Le Mit Foods tiên phong chuyển đổi, cùng với sự hỗ trợ từ chính sách và hệ thống ngân hàng, khu vực này hoàn toàn có thể trở thành trung tâm kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn của Việt Nam trong tương lai gần.

Văn Kim Khanh