Nhịp đập công nghệ

Đồng bằng sông Cửu Long: Phát triển bền vững - nuôi thủy sản bằng công nghệ xanh

Văn Kim Khanh 09/06/2026 06:30

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đẩy mạnh nuôi thủy sản bằng công nghệ xanh, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị xuất khẩu.

Nuôi thủy sản bằng công nghệ xanh, tại sao không ?

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vùng trọng điểm nuôi trồng thủy sản của Việt Nam – đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình sản xuất xanh, thông minh và bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, suy giảm nguồn nước ngọt và áp lực thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe, việc ứng dụng công nghệ xanh trong nuôi thủy sản, không chỉ là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Các mô hình nuôi tuần hoàn, giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và kiểm soát môi trường bằng công nghệ số đang dần thay thế phương thức nuôi truyền thống, mở ra hướng đi mới cho ngành thủy sản vùng châu thổ.

thuỷ sản xanh 11
Khách tham quan mô hình nuôi tôm công nghệ xanh ở Trường Thuỷ sản - Đại học Cần Thơ. Ảnh: V.K.K

Những năm gần đây, ĐBSCL ghi nhận sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu sản xuất thủy sản, từ nuôi quảng canh sang thâm canh và siêu thâm canh có kiểm soát. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh cũng kéo theo nhiều thách thức như ô nhiễm môi trường nước, dịch bệnh trên diện rộng, chi phí thức ăn tăng cao và rủi ro thị trường. Trong bối cảnh đó, công nghệ xanh được xem là “chìa khóa” để tái cấu trúc ngành theo hướng hiệu quả hơn và thân thiện với môi trường.

Các mô hình như nuôi tôm tuần hoàn nước (RAS), nuôi tôm – lúa hữu cơ, hệ thống biofloc, ao nuôi lót bạt kết hợp cảm biến môi trường, hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát chất lượng nước đang được triển khai tại nhiều địa phương như Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau và Kiên Giang. Những mô hình này giúp giảm đáng kể lượng nước thải ra môi trường, kiểm soát tốt dịch bệnh, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

CÔNG NGHỆ XANH 6
Nuôi tôm theo công nghệ cao ở tỉnh Cà Mau. Ảnh: Văn Kim Khanh

Phát triển thủy sản xanh - xu hướng tất yếu

Theo GS.TS Vũ Ngọc Út, Hiệu trưởng Trường Thủy sản – Đại học Cần Thơ, xu hướng phát triển thủy sản xanh tại ĐBSCL cần được nhìn nhận dưới góc độ hệ sinh thái tổng thể. Ông nhấn mạnh rằng, điểm cốt lõi không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là tái cân bằng hệ sinh thái nuôi trồng. Trong điều kiện biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, đặc biệt là xâm nhập mặn sâu và kéo dài, các mô hình nuôi truyền thống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên đang bộc lộ hạn chế rõ rệt. Theo ông, công nghệ xanh phải giúp giảm phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, đồng thời tăng khả năng kiểm soát các yếu tố đầu vào như nước, thức ăn và giống.

Ông cũng cho rằng việc ứng dụng cảm biến môi trường, dữ liệu thời gian thực và hệ thống cảnh báo sớm là hướng đi quan trọng. Khi người nuôi có thể theo dõi liên tục các chỉ số như pH, độ mặn, oxy hòa tan hay nhiệt độ, họ sẽ chủ động hơn trong quản lý ao nuôi, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh. Tuy nhiên, GS.TS Vũ Ngọc Út cũng lưu ý rằng chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ còn cao, đòi hỏi cần có chính sách hỗ trợ từ Nhà nước và sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ.

CÔNG NGHỆ XANH 4
Sản phẩm từ nuôi tôm theo công nghệ xanh ở tỉnh Cà Mau. Ảnh: T.L

Ở góc độ kinh tế tuần hoàn và tối ưu hóa chuỗi giá trị, PGS.TS Võ Nam Sơn cho rằng: Công nghệ xanh trong nuôi thủy sản không chỉ dừng lại ở giảm ô nhiễm mà còn phải tạo ra giá trị gia tăng mới cho sản phẩm. Theo ông, một trong những hướng đi quan trọng là tận dụng phụ phẩm trong nuôi trồng để tái sử dụng, chẳng hạn như xử lý bùn thải làm phân bón hữu cơ hoặc tái chế nước thải sau xử lý để phục vụ nuôi trồng tuần hoàn.

PGS.TS Võ Nam Sơn, Phó trưởng Khoa Khoa học và Công nghệ biển, Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số trong quản lý chuỗi sản xuất thủy sản. Việc áp dụng nền tảng dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo giúp dự báo dịch bệnh, tối ưu hóa lượng thức ăn, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và giảm phát thải khí nhà kính. Ông cho rằng, đây là yếu tố then chốt để thủy sản ĐBSCL đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường châu Âu và Bắc Mỹ, nơi ngày càng siết chặt các quy định về truy xuất nguồn gốc và dấu chân carbon.

CÔNG NGHỆ XANH 1
Nông dân Cà Mau đã áp dụng nuôi tôm theo công nghệ xanh. Ảnh: T.L

Kinh tế tuần hoàn và tối ưu hóa chuỗi giá trị

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp tại ĐBSCL đã bắt đầu đầu tư mạnh vào công nghệ xanh. Một số vùng nuôi tôm công nghệ cao tại Cần Thơ, Cà Mau và An Giang đã giảm được 20–30% lượng nước sử dụng, đồng thời tăng năng suất từ 15–25% so với phương thức truyền thống. Tuy nhiên, quá trình nhân rộng mô hình vẫn gặp khó khăn do thiếu vốn, thiếu nhân lực kỹ thuật và sự liên kết chưa chặt chẽ giữa nông dân – doanh nghiệp – nhà khoa học.

Để thúc đẩy nuôi thủy sản công nghệ xanh phát triển mạnh hơn, các chuyên gia cho rằng cần đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ tín dụng xanh, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch. Thứ hai là tăng cường liên kết nghiên cứu – chuyển giao công nghệ giữa viện, trường và doanh nghiệp. Thứ ba là đào tạo nguồn nhân lực số cho người nuôi, giúp họ tiếp cận và vận hành hiệu quả các hệ thống công nghệ hiện đại.

Trong dài hạn, ĐBSCL được kỳ vọng sẽ trở thành trung tâm sản xuất thủy sản xanh của khu vực Đông Nam Á, với các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế về bền vững. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân.

Sự chuyển đổi sang nuôi thủy sản công nghệ xanh không chỉ là câu chuyện của kỹ thuật mà còn là sự thay đổi tư duy phát triển. Từ khai thác sang nuôi trồng bền vững, từ sản lượng sang giá trị, từ phụ thuộc tự nhiên sang chủ động công nghệ – đó là con đường mà công nghệ thích ứng với tương lai biến đổi khí hậu và hội nhập toàn cầu sâu rộng.

Văn Kim Khanh