Hỏi - Đáp

Kinh tế số nâng cao giá trị nông sản Đồng bằng sông Cửu Long

Văn Kim Khanh - Thực hiện. 21/06/2026 05:42

Chuyển đổi số đang tạo động lực mới giúp nông sản Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nâng cao giá trị, mở rộng thị trường và phát triển bền vững hơn.

Vấn đề này PV Một Thế Giới đã có thực hiện hỏi - đáp TS. Nguyễn Thị Nghĩa, Phó trưởng khoa kinh tế - xã hội và môi trường, Học viện Chính trị khu vực IV

NONG SAN DBSCL 5
TS. Nguyễn Thị Nghĩa, Phó trưởng khoa kinh tế - xã hội và môi trường, Học viện Chính trị khu vực IV. Ảnh: Văn Kim Khanh

- Thưa TS. Nguyễn Thị Nghĩa, bà đánh giá như thế nào về vai trò của kinh tế số trong việc gia tăng giá trị nông sản ĐBSCL hiện nay?

- TS. Nguyễn Thị Nghĩa: ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, đóng góp lớn vào sản lượng lúa gạo, trái cây và thủy sản xuất khẩu. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, giá trị gia tăng của nông sản vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do mô hình sản xuất còn phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, lao động giản đơn và việc cung ứng sản phẩm (nông sản) chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô.

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, giá trị của hàng hóa không còn chỉ được tạo ra từ đất đai, lao động hay vốn như trước đây mà ngày càng được bổ sung bởi dữ liệu, công nghệ và các nền tảng số. Đây chính là sự khác biệt căn bản giữa kinh tế truyền thống và kinh tế số.

Đối với nông sản ĐBSCL, kinh tế số mở ra cơ hội thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ tổ chức sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến phân phối và tiêu thụ. Giá trị của nông sản không chỉ được quyết định bởi khối lượng và chất lượng mà còn được gia tăng thông qua các thông tin có thể kiểm chứng về nguồn gốc, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, mức độ an toàn và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.

NONG SAN DBSCL 7
Giống lúa chất lượng cao tại Viện lúa ĐBSCL. Ảnh: Văn Kim khanh

- Theo TS, ĐBSCL đang có những thuận lợi và khó khăn gì để thúc đẩy kinh tế số và nâng cao giá trị nông sản?

- TS. Nguyễn Thị Nghĩa: Tôi cho rằng ĐBSCL đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế số trong lĩnh vực nông nghiệp.

Trước hết, đây là vùng sản xuất nông sản quy mô lớn với nhiều ngành hàng có vị thế trên thị trường quốc tế như lúa gạo, cá tra, tôm và trái cây nhiệt đới. Đây không chỉ là lợi thế về sản lượng mà còn tạo điều kiện để chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, thu thập dữ liệu theo vùng và triển khai các giải pháp số trên quy mô đủ lớn. Khi sản xuất được tổ chức theo vùng nguyên liệu và chuỗi ngành hàng, chi phí ứng dụng công nghệ, truy xuất nguồn gốc, giám sát chất lượng và kết nối thị trường có thể được phân bổ hiệu quả hơn so với sản xuất nhỏ lẻ, phân tán.

Thứ hai, những năm gần đây, hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin trong vùng đã có nhiều cải thiện. Tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh, internet và các nền tảng số ngày càng tăng. Đây là tiền đề quan trọng để triển khai các mô hình nông nghiệp số và thương mại điện tử.

Đặc biệt, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia và chuyển đổi số nông nghiệp đã tạo môi trường chính sách thuận lợi. Những yếu tố đó cho thấy ĐBSCL có nền tảng khá thuận lợi để hình thành hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp số trong thời gian tới.

Mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng quá trình phát triển kinh tế số trong nông nghiệp ĐBSCL vẫn còn không ít rào cản.

Thách thức đầu tiên là chất lượng hạ tầng logistics và chuỗi cung ứng chưa đáp ứng yêu cầu. Thực tế hiện nay, hệ thống kho lạnh, bảo quản sau thu hoạch và vận chuyển lạnh còn thiếu và chưa đồng bộ. Điều này khiến nhiều loại trái cây và thủy sản của vùng bị suy giảm chất lượng, phát sinh tổn thất và phải tiêu thụ trong thời gian ngắn, dù thông tin sản xuất đã được số hóa. Vì vậy, chuyển đổi số phải được đặt trong quá trình hiện đại hóa đồng bộ toàn bộ chuỗi cung ứng.

Một vấn đề đáng quan tâm khác là năng lực tiếp nhận và khai thác công nghệ của một bộ phận nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số cũng là một điểm nghẽn. ĐBSCL đang thiếu lực lượng lao động có kỹ năng kép, tức vừa hiểu nông nghiệp vừa có khả năng ứng dụng công nghệ số. Đây là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình chuyển đổi.

Ngoài ra, phần lớn sản xuất nông nghiệp trong vùng vẫn còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ và mức độ liên kết theo chuỗi chưa bền vững. Điều này làm tăng chi phí đầu tư, vận hành và duy trì các giải pháp số.

Nếu những điểm nghẽn này không được tháo gỡ kịp thời, tốc độ chuyển đổi số trong nông nghiệp ĐBSCL sẽ khó đạt được kỳ vọng.

NONG SAN DBSCL 3
Giá sầu riêng tăng giảm thất thường do nông dân ĐBSCL chưa số hoá đồng bộ. Ảnh: V.K.K

- Theo TS, đâu là những giải pháp trọng tâm để kinh tế số thực sự trở thành động lực gia tăng giá trị nông sản ĐBSCL trong thời gian tới?

- TS. Nguyễn Thị Nghĩa: Để kinh tế số phát huy hiệu quả, theo tôi cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp.

Trước hết, cần hoàn thiện thể chế và cơ chế điều phối chuyển đổi số nông nghiệp theo quy mô vùng. ĐBSCL có các chuỗi ngành hàng, lưu vực nước, vùng nguyên liệu và hệ thống logistics vượt ra ngoài địa giới hành chính của từng địa phương.

Giải pháp quan trọng tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực theo hướng nâng cao năng lực sử dụng dữ liệu và giải quyết vấn đề thực tiễn. Đào tạo kỹ năng số không nên chỉ dừng ở hướng dẫn sử dụng ứng dụng, nhập nhật ký điện tử hoặc quét mã QR.

Bên cạnh đó, cần phát triển các nền tảng số theo hướng mở, có khả năng kết nối và sử dụng chung, kết nối người sản xuất với doanh nghiệp chế biến, hệ thống phân phối và người tiêu dùng trong nước cũng như quốc tế. Khi các chủ thể được kết nối trên cùng một hệ sinh thái số, giá trị của sản phẩm sẽ được gia tăng đáng kể.

nong san DBSCL 1
Những thiết bị giúp chuyển đổi số trong nông sản ở ĐBSCL. Ảnh: Văn Kim Khanh

Tôi cho rằng chuyển đổi số nông nghiệp không đơn thuần là trang bị thêm công nghệ hay phần mềm quản lý. Quan trọng hơn, đó là quá trình tái cấu trúc toàn diện chuỗi giá trị nông sản. ĐBSCL cần chuyển mình từ một vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống trở thành một hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp số có giá trị cao. Khi làm được điều đó, nông sản của vùng sẽ không chỉ tăng về sản lượng mà còn nâng cao chất lượng, thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

-Xin cảm ơn Tiến sĩ.

Văn Kim Khanh - Thực hiện.