Văn Công Hùng: Khi nhà văn viết báo…
Một buổi trưa cách đây hai năm, đang thiu thiu giấc trưa thì điện thoại rung. Giờ này mà có điện thoại thì chắc chắn chỉ ở hai địa chỉ, một là Hà Nội, và hai, ít hơn là Sài Gòn.
Hai thành phố này làm thông tầm, bạn bè hay tụ bạ đâu đấy rồi gọi. Uể oải cầm máy thì cái tên Huỳnh Dũng Nhân hiện lên: “Mình mới tới Pleiku, Hùng có rỗi ra ngồi với mình tí, rồi mình đi luôn”.

Huỳnh Dũng Nhân - “con sói phóng sự”
Tất nhiên tôi vùng dậy tới ngay. Pleiku nhỏ, bạn bè đồng nghiệp qua thường gọi, mà gọi là tôi không có khả năng từ chối, nên từng có những ngày ngồi tới 3 cuộc, về đứ đừ, chưa kể hứng lên rước bạn về nhà, việc mà cách đây hơn chục năm về trước là thường xuyên với tôi, nhưng giờ, sau nhiều... quăng quật, tôi phát hiện là không nên phiền vợ con quá, cứ ra quán là tiện nhất.

Huỳnh Dũng Nhân từng được phong là “con sói phóng sự”, từng (hình như) là người đầu tiên cưỡi xe honda xuyên Việt, đi tới đâu “sự” phóng tới đó, làm báo Lao Động đắt như tôm tươi khi ấy, độc giả xếp hàng đợi báo ra để xem ông Nhân tới đâu rồi, ăn ở ứng xử trên đường ra làm sao?
Rồi trong một cú xuyên Việt dối già, ông... đột quỵ.
Nhưng, lúc này ông mới tỏ rõ bản lĩnh của... sói. Thần chết cầm lưỡi hái lấp ló trước cổng rồi, nhưng ông ngon lành vượt qua.
Và “phát tiết” vẽ. Ban đầu là toàn chân dung bạn bè đồng nghiệp, làm hẳn cái triển lãm to đùng ở Hội Nhà báo Việt Nam. Tôi cũng có một bức được ông treo cùng các đấng các bậc khác, tất nhiên khép nép bẽn lẽn hơn.
Và in sách. Ông thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, anh em nói đùa, hội viên trẻ khi tuổi đã... già.
Trưa hôm ấy, ông xuyên Việt cùng hai ông bạn thuở... ngồi bô ở báo Nhân Dân.
Ông Nhân lên Buôn Ma Thuột rồi định về Sài Gòn thì gặp hai ông bạn này đi ô tô Hà Nội vào, rủ ra Bắc, thế là ổng “ok” luôn, dù chưa xin phép... vợ mà lại không phải là “chủ tịch hội không sợ vợ”. Và tất nhiên là ổng tặng sách. Cuốn sách... nhà tự làm. Thơ ổng, tranh ổng, bìa ảnh vợ chụp con trai và con mèo của nhà. Tập Một chút riêng tư này, ông Nhân in 31 bài thơ và mấy chục chân dung văn nghệ sĩ ông vẽ. Tức thơ kèm... tranh.
Trong cái cuốn sách ông Nhân tặng, tôi khen cái chân dung đẹp nhất là ông vẽ Phạm Đương. Cũng có thể là do trước đó hai người từng làm chung một báo.
Cái duyên với Phạm Đương
Tôi lại cũng quen Phạm Đương trong một trường hợp khá oái oăm.

Phạm Đương từng đi lính, lính K hẳn hoi. Thời ấy, tôi đang làm Tạp chí Văn Nghệ Gia Lai Kon Tum. Một hôm nhận được một phong thư đỏ quạch màu đất. Địa chỉ nơi gửi là một hòm thư đánh số, nó chứng tỏ là từ một đơn vị quân đội. Tờ giấy đính kèm phong bì là một bài thơ, tác giả là Hoa Thanh An.
“Có người lính lần đầu ra phố
Quen sống với rừng nên nhìn thứ gì cũng lạ
Một tà áo màu bay cũng xao xuyến khôn cùng…”.
Đại để thơ véo von thế. Nhưng hồi ấy, tôi rất mừng và xúc động. Thứ nhất là người viết ít, có một anh lính, lại ở biên giới, làm thơ thì quý quá. Thêm nữa, tôi luôn yêu quý, nâng niu, người viết mới và trẻ, luôn kính trọng những người lính viết văn. Vậy nên, tôi đăng ngay.
Một hôm, tôi đang ở trên phòng làm việc thì vợ lên gọi (nhà tôi ở khu tập thể liền ngay cơ quan), bảo có một chú bộ đội tới tìm. Tôi hơi giật mình. Hồi ấy ở Pleiku có một đơn vị quân đội thu dung rất quậy nên nhiều người ngại. Tôi về xem sao thì thấy một ông bộ đội đen nhẻm đang ngồi chờ. Quần áo đỏ bụi, tóc xoăn, mắt sáng, da đen. Chú tự giới thiệu là Phạm Đương, trước học Đại học Tổng hợp Huế, đóng quân ở Đức Cơ. Hôm ấy chú theo xe đơn vị về bưu điện nhận thư báo, tiện ghé thăm tôi vì từ trước khi đi bộ đội đã biết tôi làm ở Tạp chí Văn Nghệ Gia Lai Kon Tum.
Ôi giời, tôi mừng quá, giữ chú ở lại ăn cơm trưa, bảo để tôi dặn vợ nấu thêm cơm. Nhưng chú bảo chỉ được có một tiếng rồi lại phải theo xe lên đồn, lúc nãy vợ tôi cũng đã giữ mà chú không ở được. Chú nói có làm mấy bài thơ, muốn gửi tôi xem hộ. Tôi nghe thế thì mừng lắm, bởi với lính viết văn tôi luôn trân trọng. Chú lại bảo lúc nãy vợ tôi cũng nói tôi rất quý lính.
Nghe vậy tôi chợt nhớ, bèn hỏi có quen một chú lính ký tên Hoa Thanh An, mấy tháng trước có bài thơ đăng trên tạp chí mà nhuận bút gửi lại bị trả về, thơ chú ấy khá lắm. Chú bộ đội ngồi trước mặt bèn cười, bảo người ấy chính là mình. Tôi sửng sốt: “Ôi giời, ra là chú à?”.
Ra là anh lính này khi ấy thấy một cô gái xinh xinh tên Hoa, bán quán ở vùng Thanh An, Chư Prông, bèn làm thơ rồi lấy luôn tên cô ấy làm bút danh... Ngay lập tức tôi “mượn” tiền của vợ trả nhuận bút bài thơ cho Phạm Đương, rồi lên cơ quan truy lĩnh sau.
Sau cuộc gặp ấy thì chúng tôi thân nhau. Mỗi lần Phạm Đương về phố chúng tôi lại gặp nhau.
Lại nhớ, hồi ấy Pleiku rất dữ, lính K lâu lâu về phố quậy rất kinh, chưa kể có hẳn một tiểu đoàn thu dung gọi là D5, đi đâu cũng súng, lựu đạn kè kè bên mình. Luôn sẵn sàng gây sự, kể cả với công an. Nên đa phần dân Pleiku cứ thấy lính K, lính biên giới là né.
Một hôm, tôi với nhà thơ Hương Đình, lúc ấy là giáo viên cấp 3 Pleiku, đang đạp xe lơn tơn trên phố thấy một ông lính râu ria sậm sịt, da đen, bộ quần áo lính cũ mèm đầy bụi đỏ kêu rối rít: “Anh Hùng anh Hùng”. Hương Đình ngoái lại rồi... đạp xe rất nhanh. Tôi cũng thế, chạy thôi. Ông lính kia cũng hổn hổn chạy theo, “em đây em đây”. Thì ra là... Phạm Đương.
Bây giờ, Phạm Đương là Ủy viên hội đồng thơ hội Nhà văn Việt Nam, từng ẵm giải thưởng thơ quốc gia, là cây bút phóng sự lừng danh của báo Lao Động rồi Thanh Niên.
Xuân Ba - am tường từng “rễ cây”
Lại nhớ, có một cú điện thoại bất ngờ lúc gần nửa đêm.
Khi ấy, tôi đang ở trong một căn phòng tập thể của khu gia binh cũ, điện thoại bàn để ngay đầu giường. Nó reo ầm ĩ làm con bé mới hơn tuổi thức giấc khiến vợ tôi cằn nhằn. Tôi nhấc máy, một giọng Thanh Hóa: “Mi đang làm chi đóa”. “Dạ ai đấy ạ?”. “Tau, Xuân Ba đây”. Ôi giời một ông anh mới chỉ nghe tên trên báo mà chưa gặp bao giờ? Rồi ông gọi tôi ra khách sạn Ia Ly.

Cuộc gặp ấy, tôi đánh đu với các ông nhà báo từ Hà Nội vào đến... sáng. Sáng thì các ông vào công trường xây dựng nhà máy thủy điện Ia Ly. Mà lạ, ông nào cũng đều vẫn khỏe.
Và rồi, tôi đánh đu với ông anh tới tận giờ.
Ông quê ở Thanh Hóa, họ Trịnh xịn. Ông hay ký dưới mỗi bài địa chỉ làng Lon dù sống ở Hà Nội. Té ra tên cái làng của ông là làng Lon Biện Thượng. Lúc mới đọc tôi cứ tưởng ông cố tình phịa ra cái tên nghịch ngợm ấy. Tôi cũng từng về Vĩnh Lộc quê ông, vào trường cấp 3 ông học, cái trường đã làm một việc mà ít nơi làm, có một phòng lưu danh, treo ảnh các nhà văn nổi tiếng từng học ở đây. Tất nhiên có ảnh ông, ngồi cùng những Hà Minh Đức (thầy dạy Xuân Ba và nhiều thế hệ nhà văn nhà báo), Nguyễn Bảo, Phạm Hoa, Lê Quang Sinh...
Tôi nể những phóng sự trên báo Tiền Phong của ông Xuân Ba từ hồi báo còn in typo. Sau ông tập hợp in trong hai cuốn Mọi linh hồn đều được đưa tiễn và Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt, sau này gần chục cuốn nữa. Và ông trở thành Hội viên hội Nhà văn Việt Nam bằng chính những phóng sự đẫm chất văn và in đậm thân phận con người này. Mới nhất ông gửi tặng tôi cuốn Chuyện ứ Đồng Hóp, một cuốn sách hết sức trong trẻo cho cả lứa tuổi già dù nó được “nhà” Kim Đồng in. Đọc vội xong tôi lại bỏ phong bì gửi tặng lại hai cháu ngoại, đứa lớp 4, đứa lớp 5, nhắn “đọc đi, ông này quê gốc ở nơi ông sinh ra và lớn lên đấy”.
Mới nhất, tôi ngủ chung một khách sạn với ông ở Sài Gòn. Buổi sáng, “sải những bước đi bộ” - chữ hay dùng của Xuân Ba trên con đường quanh Dinh Thống Nhất, nghe ông nói vanh vách về lịch sử từng gốc cây, tôi vượt lên mấy bước rồi quay lại... vái ông. Đúng là cây bút phóng sự, thông tin ngồn ngộn đã đành, còn nhớ, còn tường tới từng cái... “rễ cây”.
“Ma thuật Tuấn”
Cái trường tôi học, khoa Văn Đại học Tổng hợp Huế ấy, cũng có nhiều nhà văn nhà báo, kể sơ cũng phải vài chục người. Sau tôi, Phạm Đương, có Trần Tuấn mà tôi muốn nhắc. Anh làm báo Tiền Phongsuốt mấy chục năm nay, là trưởng đại diện ở Đà Nẵng, cũng từng lên bờ xuống ruộng về nghề. Là người mê thơ, tận tụy với thơ và tất nhiên thơ rất có... cỡ.
Tận tụy với thơ là bởi, tất cả anh em làm thơ ở miền Trung mà có việc, anh đều có mặt, từ việc ra sách tới tập hợp in sách cho anh em khi họ không thể tự làm được nữa; từ đám ma tới đám giỗ các thi nhân vắn số, anh đều có mặt. Có khi phải vượt cả trăm cây số, thức trắng, đọc thơ bên họ... anh đều hết sức tận tình.

Thơ, với anh là hành trình cô độc, và không màng đến sự tán thưởng số đông. Tôi từng viết về thơ anh: “Thơ Tuấn là thơ về những cái không nhìn thấy, những điều không nhìn thấy, những di chuyển vô hình, và vì không nhìn thấy nên phải liên tưởng, phải tưởng tượng, cả người làm thơ và người đọc. Vì thế thơ Tuấn là thơ của những cú rướn, những cú rướn khốn khổ nhọc nhằn mà sung sướng, khoái lạc. Thơ Tuấn còn là những ngất ngây ảo ảnh. Anh lục tung những giấc mơ, hoặc những cái gì tựa như giấc mơ, bởi những điều anh chiêm nghiệm mổ xẻ nó vừa tận cùng tiềm thức, vừa thẳm sâu ký ức lại lồ lộ hiện hữu. Những giấc mơ vì thế, lại càng hoang mang, và cái đích của nó là những hiện - thực - rã - rời, tức là những mảnh hiện thực, mảnh ký ức, mảnh hình ảnh, mảnh chữ, mảnh tư duy... như một ma trận siêu thực trong một tổng thể tâm thế người thơ thoắt ẩn thoắt hiện, làm nên một lãng đãng ý thức của Tuấn trong những kết hợp dư ảnh thơ thành một ma thuật mà anh đặt là ‘Ma thuật ngón’ còn tôi gọi là ‘Ma thuật Tuấn’”.
Được chơi với họ - những người tôi kể trên, và cả rất nhiều người muốn kể nữa mà trang báo có hạn, nên đành… - tôi thấy mình được lớn lên rất nhiều. Gần nửa thế kỷ sống và hành nghề ở Tây Nguyên, chỉ viết thơ và báo, nên nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng, cũng là một nhà báo từng viết một bài về tôi và đặt tít là “Một nhà thơ làm báo bằng văn”. Tôi viết bài này từ cảm hứng ấy, cảm hứng các nhà văn viết báo...

Nhà thơ, nhà báo Văn Công Hùng, làm báo từ 1981, quê thành phố Huế, sinh ở Thanh Hóa, hiện sống ở Pleiku. Nguyên là Ủy viên BCH Hội Nhà Văn Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Văn Nghệ Gia Lai, tác giả của 17 đầu sách.