Nhịp đập công nghệ

Ít ai ngờ mỡ thừa lại là ‘mỏ vàng’ của y học: Bác sĩ tiết lộ sự thật

Hồ Quang 27/06/2026 11:22

Mỡ thừa không chỉ để loại bỏ mà còn là nguồn vật liệu quý trong y học tái tạo. Bác sĩ tiết lộ vì sao ghép mỡ tự thân giúp trẻ hóa, phục hồi mô và ngày càng được ứng dụng rộng rãi.

Từng bị xem là phần dư thừa cần loại bỏ, mỡ thừa ngày nay đang trở thành nguồn vật liệu sinh học quý giá trong y học tái tạo. Không chỉ giúp trẻ hóa khuôn mặt hay cải thiện vóc dáng, ghép mỡ tự thân còn được ứng dụng để phục hồi mô tổn thương, điều trị sẹo và hỗ trợ tái tạo sau điều trị ung thư.

Mỡ thừa từ "kẻ thù" của vóc dáng trở thành "mỏ vàng" của y học

Trong nhiều năm, khi nhắc đến mỡ thừa, phần lớn mọi người đều nghĩ đến việc phải hút bỏ để cải thiện ngoại hình. Thế nhưng, cùng với sự phát triển của y học tái tạo, quan điểm này đã thay đổi hoàn toàn.

it-ai-ngo-mo-thua-lai-la-mo-vang-cua-yhoc-bac-si-tiet-lo-su-that-hinh-anh.png
Mỡ thừa không chỉ để loại bỏ mà còn là nguồn vật liệu quý trong y học tái tạo. Ảnh: minh họa

Các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy mô mỡ không đơn thuần là nơi dự trữ năng lượng mà còn là "kho" tế bào sinh học giàu tiềm năng. Chính điều này đã đưa ghép mỡ tự thân trở thành một trong những kỹ thuật phát triển nhanh nhất của phẫu thuật tạo hình hiện đại.

Theo TS.BS Nguyễn Văn Thanh, Đơn vị Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình thẩm mỹ, Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp TP.HCM, mô mỡ chứa nhiều tế bào gốc trung mô, hệ thống mạch máu vi thể cùng các yếu tố tăng trưởng quan trọng giúp kích thích tái tạo mô và cải thiện chất lượng vùng da được điều trị.

"Ngày nay, ghép mỡ tự thân không còn chỉ mang ý nghĩa làm đẹp. Chúng tôi xem đây là một phương pháp của y học tái tạo, tận dụng chính nguồn vật liệu sinh học của người bệnh để phục hồi những vùng mô bị tổn thương, đồng thời mang lại hiệu quả thẩm mỹ tự nhiên và an toàn hơn so với nhiều vật liệu nhân tạo", TS.BS Nguyễn Văn Thanh chia sẻ.

Ghép mỡ tự thân vì sao ngày càng được ưa chuộng?

Không giống các chất làm đầy tổng hợp, ghép mỡ tự thân sử dụng chính mô mỡ của người bệnh nên có tính tương thích sinh học rất cao. Sau khi được lấy từ các vùng như bụng, eo hoặc đùi, mô mỡ sẽ trải qua quy trình xử lý nhằm loại bỏ máu, dịch, dầu tự do và những tế bào bị tổn thương trước khi cấy trở lại cơ thể.

Theo TS.BS Nguyễn Văn Thanh, thành công của một ca ghép mỡ không phụ thuộc vào lượng mỡ được lấy mà nằm ở tỉ lệ tế bào mỡ còn sống sau khi cấy ghép.

"Kỹ thuật hiện đại hướng đến việc bảo tồn tối đa sức sống của từng tế bào mỡ. Chúng tôi sử dụng áp lực hút thấp, xử lý mô nhẹ nhàng và cấy từng lượng mỡ rất nhỏ vào nhiều lớp mô khác nhau để các tế bào nhanh chóng được nuôi dưỡng bởi hệ thống mạch máu xung quanh", ông phân tích.

Nhờ sự cải tiến này, tỉ lệ mỡ tồn tại sau ghép ngày càng cao, kết quả ổn định hơn và mang lại cảm giác mềm mại, tự nhiên, thay vì hiện tượng vón cục hoặc tiêu mỡ nhanh như những kỹ thuật trước đây.

Một trong những giá trị lớn nhất của ghép mỡ tự thân là khả năng tái tạo mô.

Theo các chuyên gia, bên cạnh tế bào mỡ trưởng thành, mô mỡ còn chứa nhiều tế bào gốc trung mô và các yếu tố tăng trưởng có khả năng kích thích hình thành mạch máu mới, cải thiện tuần hoàn và thúc đẩy quá trình sửa chữa tổ chức.

Chính vì vậy, ngoài mục đích thẩm mỹ, ghép mỡ tự thân ngày càng được ứng dụng trong điều trị sẹo bỏng, sẹo co kéo, teo mô sau xạ trị, dị tật bẩm sinh hay tái tạo mô sau chấn thương và phẫu thuật ung thư.

TS.BS Nguyễn Văn Thanh cho biết, nhiều bệnh nhân sau khi ghép mỡ không chỉ cải thiện về hình thể mà chất lượng vùng da cũng thay đổi rõ rệt. Da mềm hơn, độ đàn hồi tốt hơn, sẹo co kéo giảm và tuần hoàn tại vùng điều trị được cải thiện đáng kể.

"Đây là điểm khác biệt rất lớn giữa ghép mỡ tự thân và các vật liệu làm đầy thông thường. Mỡ không chỉ bù lại thể tích đã mất mà còn góp phần kích thích quá trình tái tạo mô của chính cơ thể", ông nhấn mạnh.

Mở ra hướng đi mới cho y học tái tạo

Dù được đánh giá có độ an toàn cao, ghép mỡ tự thân không phải là thủ thuật đơn giản.

Theo TS.BS Nguyễn Văn Thanh, để đạt hiệu quả tối ưu, bác sĩ phải nắm vững giải phẫu, lựa chọn đúng vùng lấy mỡ, xử lý mô đúng quy trình và đặc biệt là cấy mỡ đúng lớp giải phẫu.

Nếu đưa quá nhiều mỡ vào cùng một vị trí hoặc thực hiện sai kỹ thuật, người bệnh có thể gặp các biến chứng như hoại tử mỡ, tạo nang dầu, vôi hóa hoặc nhiễm trùng. Ở những vùng có hệ thống mạch máu phức tạp như mặt hoặc mông, yêu cầu về trình độ chuyên môn của phẫu thuật viên càng khắt khe hơn.

Chính vì vậy, các chuyên gia khuyến cáo người dân không nên lựa chọn các cơ sở làm đẹp thiếu điều kiện chuyên môn hoặc chạy theo quảng cáo về những ca "ghép mỡ thần tốc" với chi phí thấp.

"Mục tiêu của ghép mỡ hiện đại không phải là bơm thật nhiều mỡ mà là tạo điều kiện để từng tế bào mỡ có thể tồn tại lâu dài sau khi cấy ghép. Muốn làm được điều đó cần sự kết hợp giữa kỹ thuật chuẩn, trang thiết bị phù hợp và kinh nghiệm của bác sĩ", bác sĩ Thanh lưu ý.

Bên cạnh kỹ thuật ghép mỡ truyền thống, nhiều nghiên cứu hiện tiếp tục khai thác tế bào gốc từ mô mỡ, vi mỡ (microfat), nano fat và các chế phẩm sinh học nhằm nâng cao hiệu quả điều trị trong lĩnh vực tạo hình, phục hồi chức năng và y học tái tạo.

Hồ Quang