TP.HCM 50 năm mang tên Bác - Bài 3: Điểm đến của 'giấc mơ toàn cầu'
TP.HCM bước vào giai đoạn phát triển mới với vị thế ngày càng rõ nét của một siêu đô thị liên vùng, giữ vai trò trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo lớn nhất cả nước. Trên cơ sở không gian phát triển mở rộng, vùng đô thị TP.HCM sẽ trở thành một cực tăng trưởng chiến lược trong không gian phát triển Đông Nam Á.
TP.HCM cần luật đô thị đặc biệt để bứt phá
Quy mô và vị thế mới đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị đô thị. Những vấn đề như ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường, quá tải hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ công không còn là hiện tượng cục bộ mà đã trở thành thách thức mang tính cấu trúc. Hiện nay, thành phố có trên 8 triệu xe máy và hơn 1 triệu ô tô; tốc độ đô thị hóa cao tiếp tục tạo áp lực lớn lên giao thông, nhà ở, y tế, giáo dục và môi trường sinh thái.

Trong khi đó, Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội đã trao cho TP.HCM 44 cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo đột phá về đầu tư, tài chính, đất đai và tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy mức độ phân quyền và tự chủ vẫn chưa tương xứng với yêu cầu của một siêu đô thị hiện đại, năng động và hội nhập sâu rộng.
Điều đó đặt ra mang tính cấp thiết là xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cho TP.HCM, không chỉ nhằm mở rộng thẩm quyền quản lý, mà quan trọng hơn là thiết lập một khung thể chế mới về quản trị đô thị hiện đại, kiến tạo phát triển.
Theo TS. Nguyễn Đình Phong - Trưởng khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị khu vực II, Luật Đô thị đặc biệt phải tạo ra sự chuyển đổi căn bản trong phương thức quản trị: từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; từ điều hành phân tán sang điều phối tích hợp; từ quyết định dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các siêu đô thị thành công như Singapore, Seoul hay Tokyo đều vận hành trên nền tảng phân quyền mạnh đi đôi với kiểm soát quyền lực hiệu quả, quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và lấy người dân làm trung tâm.
Nhiều chuyên gia cũng nhận định, TP.HCM phải tạo bước đột phá thực chất về phân quyền, cải cách thủ tục, nâng cao hiệu quả điều hành và chất lượng dịch vụ công. Luật Đô thị đặc biệt cần trao quyền tự chủ thực chất, đồng thời thiết lập cơ chế thử nghiệm chính sách linh hoạt để TP.HCM thích ứng nhanh với kinh tế số, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế.

Theo TS. Nguyễn Thị Thiện Trí - Trường Đại học Luật TP.HCM, điểm đột phá có tính nền tảng của dự thảo Luật Đô thị đặc biệt là chuyển từ tư duy “trao cơ chế” sang “trao quyền” thực chất cho chính quyền đô thị. TP.HCM cần thiết lập nguyên tắc phân quyền triệt để, đi kèm cơ chế sandbox cho đổi mới sáng tạo trong quản trị đô thị, tài chính và công nghệ. Bà cho rằng yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải trình, minh bạch hóa quyền lực và ứng dụng mạnh mẽ dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị đô thị, qua đó hình thành mô hình quản trị đô thị hiện đại, minh bạch và hiệu quả.
TP.HCM - Trung tâm tài chính quốc tế tương lai
Theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội, TP.HCM được xác định là một trong những hạt nhân quan trọng hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam, từng bước tham gia sâu vào mạng lưới tài chính khu vực và toàn cầu.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, TP.HCM hiện tập trung khoảng 30–35% tổng dư nợ tín dụng cả nước. Đồng thời là nơi đặt trụ sở và hoạt động của hàng trăm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và doanh nghiệp fintech. Điều này khẳng định vai trò trung tâm huy động và phân bổ nguồn lực tài chính lớn nhất cả nước.
Tuy nhiên, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở quy mô thị trường mà ở chất lượng thể chế và nguồn nhân lực. Theo nhóm nghiên cứu của ThS. Từ Minh Thuận và cộng sự - Học viện Cán bộ TP.HCM, năng lực cạnh tranh của trung tâm tài chính quốc tế phụ thuộc vào hệ sinh thái nhân lực chất lượng cao: tài chính – ngân hàng, FinTech, AI, Big Data, tài chính xanh, IFRS và quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế. Thực tế cho thấy TP.HCM vẫn đang thiếu một hệ sinh thái phát triển nhân lực đồng bộ: đào tạo chưa theo kịp công nghệ mới, liên kết nhà trường – doanh nghiệp còn hạn chế, cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế chưa đủ mạnh.
Trong tổng thể nguồn lực phát triển, cộng đồng hơn 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài hiện đang sinh sống tại trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, với trình độ phân bố ngày càng chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ, tài chính, khoa học – kỹ thuật và quản trị doanh nghiệp. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới và Bộ Ngoại giao, kiều hối gửi về Việt Nam giai đoạn 2020–2024 duy trì ở mức khoảng 14–18 tỉ USD/năm. Trong đó TP.HCM luôn là địa bàn tiếp nhận lớn nhất, chiếm khoảng 35–45% tổng lượng kiều hối cả nước, tương đương 5–7 tỉ USD/năm. Đây là một trong những dòng vốn quốc tế ổn định, ít biến động và có tính phản chu kỳ cao.
Không chỉ dừng ở dòng vốn tài chính, kiều bào Việt Nam hiện nắm giữ vị trí đáng kể trong hệ sinh thái tri thức toàn cầu: hàng chục nghìn chuyên gia đang làm việc tại các tập đoàn công nghệ lớn (Google, Microsoft, NVIDIA, Intel), hệ thống ngân hàng – tài chính quốc tế (J.P. Morgan, HSBC, Standard Chartered) và các trung tâm nghiên cứu tại Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Riêng khu vực ASEAN, cộng đồng doanh nhân Việt kiều đang tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng thương mại – logistics trị giá hàng trăm tỉ USD, đặc biệt tại Singapore, Thái Lan và Malaysia.

Đối với TP.HCM, vai trò “điểm hội tụ kiều bào” không chỉ mang ý nghĩa thu hút đầu tư trực tiếp mà còn là trung tâm kết nối ba dòng chảy chiến lược: dòng vốn (capital flow), dòng tri thức (knowledge flow) và dòng công nghệ (technology flow). Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2015–2025, khu vực kinh tế có yếu tố kiều bào tại TP.HCM đóng góp ngày càng rõ trong các lĩnh vực bất động sản, tài chính – ngân hàng, giáo dục quốc tế và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, với tốc độ tăng trưởng ước đạt 8–12%/năm tùy phân khúc.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nguồn lực kiều bào cần được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế quốc tế của TP.HCM. Theo ông Lương Xuân Hòa - đại diện cộng đồng người Việt tại Thái Lan, TP.HCM luôn là biểu tượng của đổi mới, hội nhập và sáng tạo. Kiều bào không chỉ đóng góp bằng vốn đầu tư, mà còn bằng tri thức, công nghệ, quản trị và mạng lưới quốc tế; đồng thời mong muốn mở rộng các cơ chế kết nối kinh tế, thương mại và khoa học – công nghệ với thành phố.
Biến lợi thế thể chế thành lợi thế
Theo Nghị quyết 09-NQ/TW (2026), TP.HCM đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành đô thị nổi trội của Đông Nam Á, đến năm 2045 là trung tâm kinh tế – khoa học – văn hóa của châu Á và hướng tới năm 2075 trở thành đô thị toàn cầu. Trên cơ sở đó, quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm (hướng đến 2075 và xa hơn) đánh dấu sự chuyển đổi căn bản trong tư duy phát triển, từ “mở rộng không gian đất đai” sang “kiến tạo hệ sinh thái kinh tế và không gian sống chất lượng cao”.

Trong định hướng không gian, thành phố triển khai mô hình “Ba vùng – Ba hành lang”, tái cấu trúc theo hướng đa cực, đa trung tâm. Đồng thời mở rộng liên kết phát triển với toàn vùng Đông Nam Bộ, hình thành mạng lưới đô thị – công nghiệp – dịch vụ tích hợp. Thành phố định vị chiến lược “tiến ra biển Đông”, phát triển mạnh kinh tế biển và hệ thống logistics cảng nước sâu. Trong đó có chuỗi cảng Cần Giờ, nhằm tạo cửa ngõ trực tiếp kết nối với mạng lưới hàng hải toàn cầu, nâng cao vai trò trung tâm trung chuyển khu vực.
Thành phố xác định các trụ cột đột phá gồm công nghệ cao, kinh tế số và tài chính. Trong đó, kinh tế số được định hướng chiếm khoảng 60% GRDP vào năm 2035, làm nền tảng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Mục tiêu dài hạn là đưa quy mô kinh tế thành phố đạt khoảng 800–1.200 tỉ USD vào năm 2050, qua đó củng cố vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia và trung tâm động lực của khu vực. Thực tế cho thấy, khoảng cách hiện tại vẫn lớn khi thương hiệu đô thị chưa được định vị thống nhất, trong khi cạnh tranh khu vực với Singapore, Bangkok, Thượng Hải ngày càng gia tăng.
Theo nhóm nghiên cứu GS. Edward Tài, TS. Nguyễn Thị Bích Lan, Nguyễn Thanh Giang và Trần Tuệ Trí, TP.HCM đang giữ vai trò đầu tàu với ba cực phát triển: tài chính – dịch vụ, công nghiệp – logistics và cảng biển. Tuy nhiên, hệ thống quản trị số liên vùng chưa đồng bộ, hạ tầng chịu áp lực lớn và thương hiệu đô thị vẫn chưa được “đóng gói” nhất quán trên trường quốc tế.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các đô thị thành công đều tập trung vào một số trụ cột chiến lược. Singapore xây dựng thương hiệu từ hiệu năng thể chế với EDB và STB. Seoul dựa vào công nghiệp văn hóa đạt khoảng 12 tỷ USD xuất khẩu nội dung năm 2023. Tokyo gắn sức mạnh mềm với mục tiêu kinh tế 50 nghìn tỷ yên. Thượng Hải phát triển thương hiệu từ thể chế tài chính thử nghiệm.
Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu xuất 5 trụ cột chiến lược cho TP.HCM, bao gồm: công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; trung tâm tài chính quốc tế và thương mại; chuyển đổi số và đô thị AI-first; kinh tế xanh và đô thị ven sông – ven biển; phát triển nhân tài toàn cầu.
Mỗi trụ cột cần được lượng hóa bằng KPI cụ thể như tỷ trọng kinh tế sáng tạo trong GRDP, dòng vốn FDI vào tài chính – fintech, mức độ phủ dịch vụ số, diện tích cây xanh bình quân đầu người và tỷ lệ nhân tài quốc tế tham gia hệ sinh thái đô thị.
Điểm nhấn chiến lược là xây dựng thương hiệu thành phố theo mô hình “đi trước – triển khai song song – đo lường liên tục”, trong đó thương hiệu không chỉ là truyền thông mà là công cụ điều phối phát triển và thu hút nguồn lực.
Và có thể nói trong tầm nhìn 100 năm, TP.HCM được kỳ vọng trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, vừa là “điểm đến của giấc mơ toàn cầu” – nơi hội tụ tài chính, công nghệ, văn hóa và sáng tạo, biến lợi thế thể chế thành sức mạnh mềm quốc gia.