Văn hóa - Đời sống

Tranh Việt triệu USD: Thiếu chuẩn kiểm chứng

Tiểu Vũ 01/07/2026 16:22

Tranh Việt triệu USD liên tục gây chú ý tại các phiên đấu giá quốc tế, nhưng trong nước, chuẩn kiểm chứng nguồn gốc, tác giả và hồ sơ tác phẩm vẫn còn mỏng.

Giá tranh Việt đã bước ra quốc tế

Vào giữa tháng 6, bình phong sơn mài Deer in the Forest của họa sĩ Phạm Hậu được bán tại Sotheby’s Paris với giá hơn 1,7 triệu euro, tương đương gần 2 triệu USD sau thuế và phí. Tác phẩm sáu tấm, thực hiện trong giai đoạn 1930 - 1940, trở thành bức tranh Việt Nam đầu tiên vượt mốc triệu USD trong năm 2026 trên thị trường đấu giá quốc tế.

Trước Phạm Hậu, nhiều tên tuổi mỹ thuật Việt Nam đã được thị trường quốc tế định giá ở mức cao. Portrait of Mademoiselle Phuong của Mai Trung Thứ đạt 3,1 triệu USD tại Sotheby’s Hong Kong năm 2021. La famille dans le jardin của Lê Phổ đạt hơn 2,3 triệu USD tại Sotheby’s Hong Kong năm 2023. Những mức giá này cho thấy mỹ thuật Đông Dương và mỹ thuật hiện đại Việt Nam không còn đứng ngoài dòng sưu tập châu Á.

Nhưng giá cao không tự tạo ra một thị trường lành mạnh. Phía sau một tác phẩm đủ sức bước vào phiên đấu quốc tế là hồ sơ sở hữu, lịch sử triển lãm, tài liệu xuất bản, tình trạng bảo quản, chất liệu, chữ ký và thẩm định chuyên môn. Người mua không chỉ trả tiền cho hình ảnh trên mặt tranh. Họ trả tiền cho chuỗi thông tin đi kèm tác phẩm.

510093_huou(1).jpg
Bức tranh sơn mài "Hươu trong rừng" của họa sĩ Phạm Hậu.

Trong nước, người mua vẫn dựa nhiều vào niềm tin

Ở Việt Nam, giao dịch tranh vẫn diễn ra khá nhiều trong quan hệ cá nhân. Một bức tranh có thể được giới thiệu bằng những câu quen thuộc: “nguồn tốt”, “nhà sưu tập lâu năm giữ”, “người trong nghề đã xem”, “tranh từ gia đình họa sĩ”. Những lời bảo chứng ấy có giá trị nhất định trong một cộng đồng nhỏ. Nhưng khi giá tranh lên đến hàng trăm triệu, hàng tỉ, thậm chí hàng chục tỉ đồng, niềm tin không thể thay cho hồ sơ.

Một tác phẩm muốn được xác nhận nghiêm túc phải có thông tin tối thiểu: ích thước, chất liệu, năm sáng tác nếu xác định được, ảnh chụp mặt trước và mặt sau, tình trạng bề mặt, quá trình phục chế nếu có, nguồn sở hữu, tài liệu triển lãm, catalogue hoặc ấn phẩm từng ghi nhận tác phẩm. Với tranh của các họa sĩ đã mất, dữ liệu về từng giai đoạn sáng tác càng quan trọng. Một chữ ký đúng chưa đủ nếu chất liệu, bố cục, cách xử lý màu hoặc niên đại không khớp.

Người mua mới thường yếu nhất ở phần này. Họ có thể nhận ra tên họa sĩ lớn, nhưng không đủ công cụ để phân biệt tác phẩm thật, tranh nhái, tranh chép, tranh gán tên hoặc tranh có hồ sơ thiếu minh bạch. Thị trường càng tăng giá, vùng mờ ấy càng rộng.

Vụ tranh giả năm 2016 chưa thể xem là chuyện cũ

Triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM năm 2016 vẫn là một vết hằn của thị trường mỹ thuật Việt Nam. Bộ sưu tập được giới thiệu trong không gian bảo tàng, gắn với tên nhiều danh họa xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau đó, giới chuyên môn phản ứng mạnh. Hội đồng thẩm định kết luận 15 bức không phải bản vẽ do tác giả đứng tên thực hiện, 2 bức mạo danh chữ ký tác giả.

Gần 10 năm sau, giá tranh Việt đã đi rất xa. Nhưng hạ tầng kiểm chứng trong nước chưa đi cùng tốc độ ấy. Việt Nam vẫn thiếu cơ sở dữ liệu mở về tác phẩm của các họa sĩ lớn. Nhiều catalogue cũ thất lạc. Tư liệu báo chí nằm rải rác. Hồ sơ triển lãm chưa được số hóa đầy đủ. Thông tin về quá trình lưu chuyển của tác phẩm phần lớn vẫn nằm trong trí nhớ của gia đình họa sĩ, nhà nghiên cứu, gallery hoặc một số nhà sưu tập lâu năm.

Thị trường cần hồ sơ, không chỉ lời bảo chứng

Muốn thị trường tranh trong nước trưởng thành, điều đầu tiên cần thay đổi là cách nhìn về hồ sơ tác phẩm. Hồ sơ không phải thủ tục phụ. Hồ sơ là một phần giá trị của tranh. Một tác phẩm có lai lịch rõ, từng xuất hiện trong triển lãm, có tài liệu xuất bản, có ảnh lưu trữ, có xác nhận chuyên môn và có cam kết từ bên bán sẽ khác rất xa một tác phẩm chỉ được truyền tay bằng lời kể.

Gallery cần chịu trách nhiệm rõ hơn với thông tin đưa ra cho người mua. Nhà sưu tập cần lưu giữ dữ liệu về tác phẩm thuộc sở hữu của mình. Gia đình họa sĩ, nếu còn tư liệu, có thể tham gia đối chiếu nhưng không nên bị đẩy vào vai trò xác nhận toàn bộ thị trường. Bảo tàng, hội nghề nghiệp và nhà nghiên cứu cần được nhìn như một phần của hệ thống dữ liệu.

Cũng cần có dịch vụ giám định độc lập với trách nhiệm cụ thể. Thẩm định mỹ thuật không thể chỉ dựa vào một câu “tôi thấy giống”. Nó phải dựa trên so sánh tác phẩm, chất liệu, kỹ thuật, giai đoạn sáng tác, lịch sử sở hữu và tài liệu tham chiếu. Với tác phẩm giá trị lớn, ý kiến chuyên gia cần đi kèm văn bản, phạm vi trách nhiệm và giới hạn của kết luận.

Tranh Việt triệu USD là tín hiệu vui. Nó cho thấy mỹ thuật Việt Nam có sức hút thật trong mắt nhà sưu tập quốc tế. Nhưng niềm vui ấy sẽ thiếu nền nếu trong nước vẫn mua bán bằng lời hứa nhiều hơn bằng dữ liệu. Khi một tác phẩm được định giá bằng hàng tỉ đồng, câu hỏi đầu tiên không nên là nó có tăng giá nữa không.

Tiểu Vũ