Thời sự

Việt Nam cần gì để làm chủ công nghệ chiến lược khi 'đứng trên vai người khổng lồ'?

Hoàng Bắc (thực hiện) 05/07/2026 17:25

Việc Bộ KH - CN lựa chọn 39 nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược, đặc biệt là cú “đặt cược” lớn vào hạ tầng đường sắt tốc độ cao và chuỗi giá trị đất hiếm, đánh dấu một bước ngoặt chưa từng có trong tư duy phát triển của Việt Nam.

Điều này có nghĩa, chúng ta không còn ngồi chờ công nghệ tự lan tỏa từ khối FDI, mà đang chủ động dùng quyền lực kinh tế và địa chính trị để "đứng trên vai người khổng lồ". Tuy nhiên, làm thế nào để nhiệm vụ này không dừng lại ở những tập báo cáo nghiệm thu cất tủ kính, mà thực sự trở thành "cần câu cơm" giúp Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình?

NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính

Phóng viên Một Thế Giới có cuộc trao đổi với NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính - Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng) để bóc tách những bài toán tạo động lực cho thể chế, nền kinh tế, đàm phán thị trường và chiến lược tự chủ từ nay đến năm 2030.

Việt Nam chủ động giành quyền định vị chuỗi giá trị

- Thưa NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính, quyết định nói trên phản ánh bước chuyển nào trong tư duy phát triển khoa học - công nghệ của Việt Nam? Liệu đây có phải là sự chuyển từ tư duy tự lực khép kín sang chủ động hợp tác quốc tế, tận dụng liên minh công nghệ để rút ngắn quá trình làm chủ các công nghệ chiến lược?

- NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Việc phê duyệt 39 nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược không chỉ là phân bổ ngân sách cho khoa học - công nghệ, mà phản ánh một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Việt Nam. Đó là từ tăng trưởng dựa vào lợi thế sẵn có sang xây dựng năng lực tự chủ công nghệ và tự cường kinh tế.

ChatGPT Image 16_54_50 5 thg 7, 2026
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính khẳng định, không bao giờ các tập đoàn đa quốc gia khi đặt nhà máy tại Việt Nam tự động đào tạo và chuyển giao bí quyết cho doanh nghiệp bản địa. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Hơn 3 thập kỉ qua, Việt Nam thu hút mạnh vốn FDI nhờ lợi thế về lao động, quỹ đất và chính sách ưu đãi. Mô hình này tạo động lực tăng trưởng và giúp chúng ta tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, phần lớn giá trị gia tăng, công nghệ và năng lực đổi mới vẫn tập trung ở khu vực FDI, trong khi doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia các khâu có giá trị thấp.

Chúng ta từng kì vọng vào hiệu ứng lan tỏa công nghệ, tức là hi vọng các tập đoàn đa quốc gia khi đặt nhà máy tại Việt Nam sẽ tự động đào tạo và chuyển giao bí quyết cho doanh nghiệp bản địa. Nhưng thực tế cho thấy, công nghệ độc quyền là cội nguồn của siêu lợi nhuận, không một nhà tư bản nào tự nguyện dâng chiếc "cần câu cơm" của mình.

Trong bối cảnh đó, Nhà nước chủ động xác định 39 nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược và triển khai thông qua hợp tác quốc tế thể hiện sự thay đổi về tư duy. Đó là không còn thụ động chờ đợi dòng chảy công nghệ, mà chủ động định hướng nguồn lực để tiếp cận, tiếp nhận và từng bước làm chủ các công nghệ nền tảng. Đây không phải là từ bỏ tinh thần tự lực tự cường, mà nâng tầm tự lực bằng cách chủ động hợp tác, chủ động đàm phán và từng bước vươn lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam cần tận dụng lợi thế thị trường để thúc đẩy chuyển giao công nghệ

-Nhiều ý kiến cho rằng các chương trình hợp tác trước đây chủ yếu dừng ở mua sắm thiết bị, chưa tạo được chuyển giao công nghệ thực chất. Theo ông, các thỏa thuận hợp tác lần này cần có những điều khoản cốt lõi nào để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ?

- NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Đây là bài học mà Việt Nam đã nhiều lần trải qua. Không ít dự án hợp tác trước đây chủ yếu dừng ở việc nhập khẩu thiết bị, còn công nghệ cốt lõi, mã nguồn, quy trình sản xuất và bí quyết kĩ thuật vẫn thuộc về đối tác nước ngoài. Chúng ta mua được sản phẩm nhưng chưa thực sự làm chủ công nghệ.

Để không lặp lại tình trạng đó, Việt Nam cần chuyển từ tư duy mua công nghệ sang đàm phán để làm chủ công nghệ. Lợi thế của chúng ta không chỉ là nhu cầu đầu tư lớn, mà còn thị trường gần 100 triệu dân và hàng loạt dự án hạ tầng qui mô lớn. Đây là những lợi thế cần được sử dụng như "đòn bẩy" trong đàm phán với các đối tác quốc tế.

ChatGPT Image 16_31_11 5 thg 7, 2026
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính đã chia sẻ thẳng thắn về công nghệ độc quyền hiện nay. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Theo tôi, các thỏa thuận hợp tác cần bảo đảm ít nhất 3 yêu cầu. Đầu tiên, quy định rõ lộ trình nội địa hóa, gắn với tỉ lệ sản xuất trong nước và sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Tiếp đó, ràng buộc trách nhiệm chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và chia sẻ tri thức để đội ngũ kỹ sư Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, thay vì chỉ vận hành thiết bị. Cuối cùng, đổi mới tiêu chí lựa chọn đối tác theo hướng ưu tiên năng lực chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu - phát triển tại Việt Nam và cam kết hợp tác dài hạn, thay vì chỉ dựa vào giá trúng thầu thấp nhất.

Chỉ khi coi thị trường và các dự án quy mô lớn là lợi thế để đổi lấy tri thức và năng lực công nghệ, Việt Nam mới có thể "đứng trên vai người khổng lồ" mà không tiếp tục phụ thuộc vào họ.

Siêu dự án hàng chục tỉ USD - Công cụ tạo thặng dư hay cuộc chuyển dịch tư bản ngược?

- Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên làm chủ những công nghệ cốt lõi nào để dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam trở thành động lực phát triển ngành cơ khí chế tạo và công nghiệp đường sắt, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ công nghệ?

- NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Với quy mô đầu tư dự kiến vượt mốc 60 tỉ USD, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam là công trình hạ tầng lớn nhất trong lịch sử dân tộc. Nhìn dưới lăng kính kinh tế chính trị, một siêu dự án cỡ này luôn mang tính lưỡng dụng. Có thể là động lực mạnh mẽ kích cầu nền kinh tế, tạo thặng dư xã hội khổng lồ. Nhưng cũng ẩn chứa rủi ro trở thành một cuộc chuyển dịch tư bản ngược. Cần nâng cao tỉ lệ nội địa hóa và năng lực làm chủ công nghệ, nếu không phần lớn giá trị gia tăng và lợi ích kinh tế có thể thuộc về các nhà cung cấp nước ngoài thông qua thiết bị, công nghệ và dịch vụ bảo trì trong suốt vòng đời dự án. Khi đó chúng ta sẽ là người phải chịu trách nhiệm các khoản nợ vay, thế nhưng các nhà cung cấp nước ngoài lại thu về toàn bộ thặng dư từ chuỗi cung ứng, từ việc bán đầu máy, toa xe cho đến tiếp tục cung cấp linh kiện, dịch vụ bảo trì và nâng cấp công nghệ độc quyền cung cấp linh kiện bảo dưỡng suốt vòng đời nửa thế kỉ của dự án.

Việc tập trung nghiên cứu công nghệ chiến lược cho đường sắt tốc độ cao là yêu cầu mang tính sống còn để bảo đảm an ninh tài chính và chủ quyền công nghệ quốc gia. Việt Nam không thể dàn trải nguồn lực để tự nghiên cứu mọi công nghệ từ đầu, mà cần tập trung làm chủ 2 nhóm công nghệ cốt lõi: công nghệ nền tảng và công nghệ lõi.

Với công nghệ nền tảng, Việt Nam có lợi thế về cơ khí chế tạo và luyện kim với nhiều doanh nghiệp quy mô lớn. Vì vậy, chúng ta cần yêu cầu đối tác chuyển giao công nghệ luyện kim đặc chủng để sản xuất ray tốc độ cao, hệ kết cấu đường ray không ba lát và các cấu kiện cơ khí quan trọng. Làm chủ được các công nghệ này sẽ giúp giữ lại phần lớn giá trị gia tăng của dự án cho doanh nghiệp trong nước, tạo ra nhiều việc làm kĩ thuật chất lượng cao.

Với công nghệ lõi, trọng tâm là hệ thống điều khiển, thông tin tín hiệu và phần mềm vận hành - "bộ não" của toàn bộ mạng lưới đường sắt tốc độ cao. Các hệ thống liên khóa, tín hiệu di động chuyên dụng và phần mềm điều hành đoàn tàu quyết định trực tiếp đến an toàn, hiệu quả khai thác. Nếu phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, Việt Nam phải trả chi phí bản quyền lớn, bị động trong nâng cấp hệ thống và đối mặt với rủi ro về an ninh mạng. Vì vậy, làm chủ bản quyền phần mềm và hệ thống điều khiển chính là chìa khóa để nắm giữ chủ quyền công nghệ đối với siêu dự án này.

Bước qua "lời nguyền" xuất khẩu thô

- Dù sở hữu nguồn tài nguyên đất hiếm lớn, việc khai thác và chế biến sâu đất hiếm của Việt Nam còn hạn chế, khiến giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng. Theo ông, đâu là giải pháp công nghệ mang tính quyết định để chuyển từ khai thác tài nguyên sang làm chủ chuỗi giá trị, từng bước phá vỡ "lời nguyền" xuất khẩu thô?

- NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Câu chuyện đất hiếm cho thấy Việt Nam hiện chủ yếu mới chỉ tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị. Chúng ta chủ yếu khai thác và xuất khẩu quặng hoặc sản phẩm sơ chế, thu về giá trị thấp nhưng lại gánh phần lớn chi phí môi trường. Trong khi đó, giá trị gia tăng cao nhất thuộc về các quốc gia làm chủ công nghệ tinh chế sâu để sản xuất nam châm vĩnh cửu, pin xe điện và chip bán dẫn.

Muốn biến đất hiếm thành lợi thế chiến lược, Việt Nam phải làm chủ công nghệ phân tách và tinh chế đạt độ tinh khiết 99,99%. Đây là ngưỡng kĩ thuật quyết định để đất hiếm có thể tham gia chuỗi cung ứng công nghệ cao. Nếu không vượt qua được khâu này, chúng ta vẫn chỉ là nhà cung cấp nguyên liệu thô.

Tuy nhiên, xét dưới góc độ kinh tế chính trị, Việt Nam không nên tự phát triển công nghệ này một cách độc lập. Trong bối cảnh nhiều nền kinh tế đang tìm kiếm nguồn cung đất hiếm ngoài Trung Quốc để đa dạng hóa chuỗi cung ứng, đây là cơ hội để nâng cao vị thế trên bàn đàm phán quốc tế.

Việt Nam cần chủ động đặt ra nguyên tắc hợp tác. Đó là sẵn sàng cung cấp nguồn đất hiếm ổn định, nhưng phải đi kèm cam kết chuyển giao công nghệ tinh chế sâu, hỗ trợ xây dựng các cơ sở đóng gói, kiểm thử vi mạch và từng bước phát triển năng lực thiết kế chip trong nước. Nói cách khác, chúng ta tận dụng lợi thế tài nguyên để thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Đây là con đường để Việt Nam vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu và xây dựng nền tự chủ công nghệ.

Nút thắt lớn nhất nằm ở quản lý rủi ro

- Nhiều ý kiến cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không phải tiếp cận công nghệ, mà là năng lực hấp thụ. Theo ông, đâu là "nút thắt cổ chai" cần tháo gỡ? Đồng thời, việc xây dựng định mức tài chính cho các công nghệ chưa có tiền lệ đang vướng những rào cản gì?

- NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Khi nói về năng lực hấp thụ công nghệ, nhiều người thường cho rằng "điểm nghẽn" nằm ở chất lượng nhân lực hay năng lực tài chính của doanh nghiệp. Theo tôi, đó mới chỉ là phần ngọn. Nút thắt lớn nhất hiện nay là thể chế quản lý rủi ro trong khoa học - công nghệ.

TP.HCM cần có cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia công nghệ. Ảnh minh hoạ
Việt Nam cần xây dựng một cơ chế tài chính đặc thù cho khoa học - công nghệ theo hướng sandbox. Ảnh minh hoạ

Nghiên cứu công nghệ luôn tiềm ẩn rủi ro và không phải dự án nào cũng thành công. Trên thế giới, việc một số nhiệm vụ nghiên cứu không đạt kết quả như kì vọng là bình thường. Tuy nhiên, cơ chế quản lý tài chính của Việt Nam vẫn mang nặng tư duy hành chính, yêu cầu mọi khoản chi phải đúng quy trình và gần như mặc định nghiên cứu phải thành công. Điều này khiến các nhà khoa học dành quá nhiều thời gian cho thủ tục thay vì sáng tạo, đồng thời tạo tâm lý sợ rủi ro, sợ trách nhiệm.

Hiện các hội đồng tư vấn đang xây dựng định mức tài chính và kinh tế - kỹ thuật cho 39 nhiệm vụ công nghệ chiến lược. Đây là khâu rất khó, bởi nhiều lĩnh vực như đường sắt tốc độ cao hay tinh chế đất hiếm chưa từng có tiền lệ. Nếu tiếp tục áp dụng các định mức và qui trình cũ, việc giải ngân sẽ rất chậm, làm mất cơ hội triển khai các dự án chiến lược.

Theo tôi, Việt Nam cần xây dựng một cơ chế tài chính đặc thù cho khoa học - công nghệ theo hướng sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát). Nhà nước nên khoán kinh phí theo sản phẩm cuối cùng, chấp nhận thuê chuyên gia quốc tế theo giá thị trường và đánh giá hiệu quả bằng kết quả đầu ra, thay vì kiểm soát quá chặt từng khoản chi. Muốn làm chủ công nghệ đỉnh cao, chúng ta phải chấp nhận cơ chế đầu tư tương xứng với chuẩn mực quốc tế.

Bên cạnh đó, chúng ta cần hình thành cơ chế "kiềng 3 chân" để nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ. Đó là giao các tập đoàn trong nước làm hạt nhân tiếp nhận và lan tỏa công nghệ; phát triển mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh tham gia chuỗi cung ứng. Đồng thời, chúng ta phải đổi mới đào tạo theo mô hình học thông qua dự án thực tế, đưa kĩ sư sang làm việc trực tiếp tại các viện nghiên cứu và doanh nghiệp đối tác để tiếp thu công nghệ ngay trong quá trình triển khai.

Lối đi nào cho Việt Nam để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình?

- Nếu chúng ta triển khai một cách quyết liệt và tháo gỡ được các nút thắt thể chế như ông vừa nêu, diện mạo kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam sẽ có những thay đổi mang tính đột phá nào khi bước sang cột mốc năm 2030?

- NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính: Năm 2030 là cột mốc có ý nghĩa chiến lược đối với Việt Nam trong mục tiêu trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Nếu 39 nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược được triển khai thành công và đi vào thực tiễn, nền kinh tế sẽ bước sang một giai đoạn phát triển mới. Trong đó, tăng trưởng không còn dựa chủ yếu vào tài nguyên hay lao động giá rẻ mà được dẫn dắt bởi năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

ChatGPT Image 16_40_47 5 thg 7, 2026
NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính khẳng định cơ hội "đứng trên vai người khổng lồ" không nhiều, Việt Nam phải biết tận dụng. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Khi đó, Việt Nam sẽ từng bước làm chủ các ngành công nghiệp chiến lược như đường sắt tốc độ cao, bán dẫn, vật liệu mới, đất hiếm... Đây không chỉ là câu chuyện về một vài dự án công nghệ, mà là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, cơ hội này sẽ không tự trở thành hiện thực. Thời gian đến năm 2030 không còn nhiều. Nếu vẫn duy trì tư duy quản lý cũ, thủ tục kéo dài và cơ chế tài chính thiếu linh hoạt, các nhiệm vụ nghiên cứu rất dễ dừng lại ở những báo cáo nghiệm thu thay vì tạo ra sản phẩm và ngành công nghiệp mới.

Thế giới đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ về công nghệ và chuỗi cung ứng. Cơ hội để 'đứng trên vai người khổng lồ' không có nhiều, trong giai đoạn tái cấu trúc địa chính trị toàn cầu, để Việt Nam tiếp thu tri thức và rút ngắn khoảng cách phát triển. Nếu tận dụng tốt cửa sổ cơ hội này, chúng ta có thể chuyển từ một quốc gia tham gia ở khâu gia công sang một quốc gia làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị gia tăng cao. Ngược lại, nếu chậm trễ, Việt Nam sẽ tiếp tục đứng ở những mắt xích có giá trị thấp trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Thành công hay không phụ thuộc vào quyết tâm cải cách thể chế và hành động quyết liệt ngay từ hôm nay.

Xin trân trọng cảm ơn NCS. Thạc sĩ Nguyễn Đức Tính về cuộc trao đổi sâu sắc và thẳng thắn này!

Hoàng Bắc (thực hiện)