Thời sự

CBAM ‘thúc’ doanh nghiệp chuyển đổi xanh

Hoàng Bắc 10/07/2026 16:58

CBAM (cơ chế điều chỉnh biên giới carbon) đang tạo sức ép buộc doanh nghiệp Việt Nam đẩy nhanh chuyển đổi xanh để duy trì năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Ngày 10/7, tại Hội thảo tham vấn "Xây dựng định hướng nhu cầu thị trường tài chính bền vững cho các khu công nghiệp TP.HCM", ông Phạm Bình An - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM cho rằng sức ép từ CBAM của Liên minh châu Âu (EU) đang buộc doanh nghiệp phải đẩy nhanh chuyển đổi xanh để tồn tại và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

TP.HCM tăng tốc chuyển đổi khu công nghiệp

Theo ông Phạm Bình An, xu hướng chuyển đổi xanh trở thành yêu cầu bắt buộc của nền kinh tế toàn cầu, thay vì một lựa chọn mang tính khuyến khích như trước đây.

image_5a07a3ca.png
Ông Phạm Bình An - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM. Ảnh: Hoàng Bắc

Đặc biệt, từ ngày 1/1/2026, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) chính thức bước vào giai đoạn triển khai đầy đủ đối với 6 nhóm ngành phát thải lớn.

Điều này đồng nghĩa, nếu doanh nghiệp không giảm được lượng phát thải carbon, sẽ phải mua chứng chỉ carbon để bù đắp. Điều đó làm gia tăng đáng kể chi phí sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh.

Trong bối cảnh đó, ông Phạm Bình An cho rằng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh là hết sức cần thiết. TP.HCM là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong quá trình chuyển đổi các khu công nghiệp theo mô hình sinh thái.

Thành phố tham gia chương trình thí điểm cấp quốc gia vừa xây dựng chương trình riêng chuyển đổi toàn bộ 17 khu công nghiệp, trước mắt triển khai thí điểm tại 5 khu công nghiệp.

Theo định hướng này, các khu công nghiệp sẽ từng bước chuyển từ mô hình sản xuất truyền thống sang công nghệ cao, công nghiệp tuần hoàn, công nghiệp xanh và khu công nghiệp sinh thái. Đây là xu hướng phát triển phù hợp với chiến lược tăng trưởng xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) của Việt Nam.

Ông Phạm Bình An cho biết, Khu công nghiệp Phú Mỹ là một trong những mô hình tiêu biểu đang được triển khai. Lãnh đạo TP.HCM đã trực tiếp khảo sát và đánh giá quá trình chuyển đổi tại đây.

Dù chưa thể đạt ngay các tiêu chuẩn cao nhất, nhưng quá trình chuyển đổi được ghi nhận với những mức độ hoàn thành khác nhau, tạo nền tảng để nhân rộng trong thời gian tới.

Sau giai đoạn thí điểm, TP.HCM sẽ tiếp tục mở rộng chương trình sang các khu công nghiệp còn lại. Trong khi đó, khu vực Bình Dương (cũ) đang đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc công nghiệp theo hướng chuyển dịch lên các ngành công nghệ cao, phát triển khu công nghiệp sinh thái và công nghiệp xanh.

Hỗ trợ theo kết quả giảm phát thải

Theo Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM, những chuyển động phản ánh sự thay đổi trong định hướng chính sách của Trung ương. Nếu trước đây khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nói chung, thì các nghị quyết mới đã chuyển mạnh sang ưu tiên công nghệ cao, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

p1530631.jpg
Các chuyên gia tham dự hội thảo. Ảnh: Hoàng Bắc

Ông cho rằng nguồn lực ngân sách vẫn còn hạn chế nên không thể hỗ trợ dàn trải. Chính sách cần tập trung vào các ngành ưu tiên, các doanh nghiệp có dự án khả thi và có năng lực thực hiện tốt để tạo hiệu quả lan tỏa.

Đáng chú ý, hạn chế lớn nhất là chính sách hỗ trợ vẫn chủ yếu dựa trên đầu vào. Đó là ưu đãi tín dụng, hỗ trợ lãi suất hoặc vốn vay. Trong khi đó, quy mô hỗ trợ khoảng 200 tỉ đồng cho một dự án vẫn còn khá nhỏ so với chi phí thực tế của các dự án đổi mới công nghệ.

Quan trọng hơn, chính sách chưa gắn chặt với kết quả đầu ra. “Điều cần hướng tới là phải đo lường được doanh nghiệp giảm bao nhiêu phát thải, chuyển đổi ESG đến đâu, hiệu quả môi trường đạt được như thế nào?. Khi đó, việc hỗ trợ mới thực sự tạo động lực cho doanh nghiệp chuyển đổi và đóng góp vào mục tiêu Net Zero”, ông An nhấn mạnh.

Theo ông, trong giai đoạn tới, chính sách cần chuyển dần từ hỗ trợ theo đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả đạt được. Không chỉ hỗ trợ vốn, Nhà nước cần đồng hành với doanh nghiệp trong chuyển giao công nghệ, xây dựng hệ thống đo lường phát thải và đánh giá hiệu quả chuyển đổi xanh.

Một nội dung khác được ông đặc biệt nhấn mạnh là ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị). Theo ông, ESG không còn là yêu cầu dành riêng cho các tập đoàn lớn. ESG cần được áp dụng rộng rãi đến doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc thực hiện ESG ở các hoạt động tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch hơn hay kinh tế tuần hoàn. Đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống quản trị minh bạch, công bố báo cáo và lượng hóa các kết quả đạt được.

“Khi doanh nghiệp thực hiện ESG một cách bài bản, không chỉ là thay đổi quy trình sản xuất mà còn là thay đổi tư duy quản trị và năng lực cạnh tranh. Điều này đặc biệt quan trọng đối với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn chiếm tỉ trọng rất lớn trong nền kinh tế”, ông nói.

Ông cho rằng quá trình chuyển đổi xanh cần được triển khai đồng bộ với phát triển kinh tế tuần hoàn và mô hình cộng sinh công nghiệp trong các khu công nghiệp. Ở đó, chất thải hoặc phụ phẩm của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp khác.

Để đạt được mục tiêu, TP.HCM cần có hệ thống chính sách thống nhất từ Trung ương nhằm tạo hành lang pháp lí và cơ chế hỗ trợ đồng bộ. Doanh nghiệp được tiếp cận đầy đủ nguồn lực về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn đo lường và cơ chế khuyến khích theo kết quả. Khi đó, quá trình chuyển đổi xanh mới thực sự tạo ra hiệu quả bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Hoàng Bắc