Thời sự

Kỷ nguyên EPR: Vì sao nhiều doanh nghiệp sẽ thua ngay từ khi sản phẩm còn... trên bản vẽ?

Hoàng Bắc 21/07/2026 14:34

Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đã bước vào giai đoạn thực thi bắt buộc, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong chính sách môi trường của Việt Nam.

Nhưng đằng sau các quy định về tái chế hay đóng góp tài chính là một cuộc tái cấu trúc sâu rộng hơn đối với doanh nghiệp. Hiện các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường, phát thải carbon và phát triển bền vững. EPR không còn là một nghĩa vụ pháp lý đơn thuần mà đang trở thành thước đo năng lực quản trị và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Không còn sản xuất rồi "để xã hội xử lí"

Từ năm 2026, nhiều doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu chính thức bước vào lộ trình thực hiện EPR. Theo quy định, trách nhiệm của doanh nghiệp không chỉ đưa sản phẩm ra thị trường. Khi sản phẩm trở thành chất thải, doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ tái chế hoặc đóng góp kinh phí để hỗ trợ hoạt động thu gom, xử lí theo quy định.

1784609925294_1940959800311574770_1940959800311574770_7ed3ae834afcae61c654f6a5e68410c9.jpg
Nhiều doanh nghiệp tham dự sự kiện trình diễn - kết nối công nghệ theo chuyên đề: Công nghệ môi trường xanh xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn thực hiện trách nhiệm EPR và phát triển bền vững TP.HCM ngày 21/7/2026.

Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam, đồng thời phản ánh xu hướng quản trị đang diễn ra trên thế giới. Thay vì để toàn bộ chi phí xử lí chất thải do ngân sách nhà nước và xã hội gánh chịu, trách nhiệm được chia sẻ với chính những đơn vị tạo ra sản phẩm.

TS. Thái Phương Vũ - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM cho rằng, nếu chỉ nhìn EPR dưới góc độ là một nghĩa vụ tài chính thì doanh nghiệp sẽ chưa thấy hết bản chất của chính sách. EPR là công cụ quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn. “Trong mô hình kinh tế tuyến tính, doanh nghiệp khai thác tài nguyên, sản xuất, tiêu dùng rồi thải bỏ. Khi sản phẩm được bán ra, trách nhiệm gần như kết thúc. Còn với kinh tế tuần hoàn, nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ vòng đời của sản phẩm. Đó mới là mục tiêu cốt lõi của EPR”, TS. Thái Phương Vũ phân tích.

Sự thay đổi này không chỉ tác động đến hoạt động tái chế mà còn buộc doanh nghiệp phải xem xét lại toàn bộ chuỗi giá trị, từ thiết kế sản phẩm, lựa chọn nguyên liệu, tổ chức sản xuất đến thu hồi sau tiêu dùng. “EPR không còn là câu chuyện của riêng bộ phận môi trường. Đây là bài toán quản trị của cả doanh nghiệp”, TS. Thái Phương Vũ nhấn mạnh.

Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở dữ liệu

Theo TS. Thái Phương Vũ, trong quá trình tập huấn và tư vấn cho doanh nghiệp, câu hỏi ông thường gặp nhất là doanh nghiệp sẽ phải đóng bao nhiêu tiền để thực hiện EPR. Tuy nhiên, theo ông, đó chưa phải là vấn đề khó nhất. “Cái doanh nghiệp thiếu không phải là tiền, mà là dữ liệu”, ông nói.

e13b9f11-5b8b-4b9a-9a57-d9af1442d0c8.png
Ảnh minh hoạ

Thực tế, nhiều doanh nghiệp biết rõ mỗi năm bán ra bao nhiêu sản phẩm nhưng lại chưa thống kê được mình đã đưa bao nhiêu giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh hay vật liệu khác ra thị trường. Trong khi đó, EPR được tính toán trên chính những dữ liệu này.

Doanh nghiệp không chỉ kê khai số lượng hàng hóa mà còn phải xác định khối lượng từng loại vật liệu cấu thành sản phẩm và bao bì để tính toán nghĩa vụ tái chế hoặc lựa chọn phương án thực hiện phù hợp. Theo TS. Thái Phương Vũ, muốn thực hiện EPR hiệu quả, doanh nghiệp phải bắt đầu bằng việc kiểm toán dữ liệu (Data Audit). Nếu không biết mình đã đưa bao nhiêu vật liệu ra thị trường thì rất khó xác định nghĩa vụ, càng khó tối ưu chi phí thực hiện EPR.

Kiểm toán dữ liệu không chỉ phục vụ việc kê khai. Quan trọng hơn, đây là cơ sở để doanh nghiệp quản trị tài nguyên và thiết kế lại sản phẩm. Khi dữ liệu được số hóa đầy đủ, doanh nghiệp sẽ biết loại vật liệu nào chiếm tỉ trọng lớn, loại nào khó tái chế, loại nào có thể thay thế bằng vật liệu thân thiện hơn. Từ đó, việc cải tiến sản phẩm không chỉ giúp đáp ứng quy định mà còn giảm chi phí nguyên liệu, chi phí tái chế và phát thải trong dài hạn.

Theo TS. Thái Phương Vũ, điều này cũng khiến EPR trở thành câu chuyện của nhiều bộ phận trong doanh nghiệp. Bộ phận nghiên cứu phát triển phải tính đến khả năng tái chế ngay từ khâu thiết kế. Bộ phận mua hàng phải cân nhắc lựa chọn nguyên liệu. Bộ phận sản xuất phải kiểm soát định mức vật tư. Kế toán phải tính toán chi phí thực hiện. Trong khi đó, ban lãnh đạo phải coi EPR là một phần của chiến lược phát triển bền vững.

Cuộc cạnh tranh mới bắt đầu từ bàn thiết kế sản phẩm

Theo TS. Thái Phương Vũ, nhiều doanh nghiệp vẫn xem EPR là khoản chi phí phát sinh để tuân thủ quy định. Nhưng nếu nhìn ở góc độ dài hạn, đây lại là cơ hội để tái cấu trúc hoạt động sản xuất. Một sản phẩm sử dụng ít vật liệu hỗn hợp sẽ dễ tái chế hơn. Một bao bì được thiết kế theo hướng đơn chất sẽ giảm đáng kể chi phí thu hồi và xử lí. Một doanh nghiệp chủ động xây dựng hệ thống thu gom hoặc tham gia các tổ chức trách nhiệm của nhà sản xuất sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ EPR.

Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa - đơn vị tiên phong chuyển đổi xanh. Ảnh: L.T.T
Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa - đơn vị tiên phong chuyển đổi xanh. Ảnh: L.T.T

Những thay đổi tưởng chừng chỉ diễn ra trên bàn thiết kế lại quyết định chi phí của doanh nghiệp trong suốt vòng đời sản phẩm. Đó cũng là xu hướng mà nhiều tập đoàn toàn cầu đang theo đuổi nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ESG, giảm phát thải carbon và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.

Theo TS. Thái Phương Vũ, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận. Thay vì xem EPR là một khoản chi phí bắt buộc, doanh nghiệp nên coi đây là động lực để đổi mới công nghệ, thiết kế sinh thái, tối ưu sử dụng tài nguyên và nâng cao năng lực quản trị.

Ông khuyến nghị doanh nghiệp chủ động xây dựng lộ trình thực hiện EPR, đầu tư hệ thống dữ liệu, tăng cường hợp tác với các tổ chức tái chế và đưa các mục tiêu kinh tế tuần hoàn vào chiến lược phát triển dài hạn.

"Những doanh nghiệp thay đổi sớm sẽ có lợi thế lớn hơn khi các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc của thị trường. Cuộc cạnh tranh trong tương lai sẽ không chỉ dựa vào giá thành hay năng suất, mà còn dựa vào khả năng quản trị tài nguyên, quản trị dữ liệu và giảm phát sinh chất thải", TS. Thái Phương Vũ nhận định.

Thực tế, EPR không chỉ là một quy định mới về bảo vệ môi trường. Sâu xa hơn, đây là một công cụ để tái định hình cách doanh nghiệp sản xuất, sử dụng tài nguyên và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Việc thực hiện EPR sẽ không còn là câu chuyện tuân thủ pháp luật, mà trở thành điều kiện để duy trì và mở rộng thị trường.

Theo TS. Thái Phương Vũ, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai cách tiếp cận. Đầu tiên là xem EPR như một nghĩa vụ phát sinh và tìm cách hoàn thành với chi phí thấp nhất. Mặc khác, coi EPR là cơ hội để rà soát toàn bộ chuỗi sản xuất, đổi mới thiết kế sản phẩm, quản trị dữ liệu, tối ưu sử dụng tài nguyên và xây dựng lợi thế cạnh tranh mới.

Có thể thấy, cuộc cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai đoạn tới sẽ không chỉ được quyết định bởi giá thành, năng suất hay công nghệ. Một tiêu chí mới đang hình thành, đó là năng lực quản trị vòng đời sản phẩm và khả năng đưa vật liệu quay trở lại chu trình sản xuất.

EPR không phải là đích đến của một chính sách môi trường. Đó là điểm khởi đầu của một cuộc chuyển đổi trong tư duy phát triển. Khi kinh tế tuần hoàn trở thành xu thế tất yếu, doanh nghiệp càng thay đổi sớm sẽ càng có nhiều cơ hội tạo dựng lợi thế cạnh tranh. Ngược lại, sự chậm trễ không chỉ làm gia tăng chi phí tuân thủ mà còn có thể khiến doanh nghiệp đánh mất cơ hội tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Hoàng Bắc