Thời sự

PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm: Xanh hóa nền kinh tế không chỉ là bài toán vật liệu

Hoàng Bắc 21/07/2026 16:48

Kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải carbon và chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu rộng trong sản xuất, tiêu dùng và quản trị tài nguyên.

Để biến mục tiêu xanh thành hiện thực, Việt Nam cần công nghệ mới vừa giải quyết những bài toán về vật liệu, dữ liệu và nguồn nhân lực.

p1540588.jpg
PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm tại sự kiện trình diễn – kết nối công nghệ theo chuyên đề "Công nghệ môi trường xanh xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn thực hiện trách nhiệm EPR và các mục tiêu phát triển bền vững"

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM (HCMUNRE) cho rằng vật liệu xanh từ nhựa tái chế, quản trị môi trường dựa trên dữ liệu và đào tạo nhân lực mới sẽ là những trụ cột quan trọng trong quá trình chuyển đổi.

Không phải cứ tái chế là đã xanh

- Thưa ông, thách thức lớn nhất trong nghiên cứu và sản xuất composite sinh học từ nhựa tái chế để vừa đảm bảo độ bền, vừa giảm dấu chân carbon là gì?

- PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm: Đây là lĩnh vực còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trước khi có thể thương mại hóa rộng rãi. Theo tôi, có 4 thách thức lớn.

Đầu tiên là khả năng tương thích giữa nhựa tái chế và sợi sinh học. Các loại nhựa như HDPE, PP, PE có đặc tính rất khác so với sợi tự nhiên như tre, gỗ, nứa. Việc kết hợp 2 loại vật liệu này không đơn giản là trộn lẫn, mà phải tạo ra được sự liên kết đủ bền để vật liệu mới giữ được tính năng cơ học.

p1540584.jpg
Sự kiện trình diễn – kết nối công nghệ theo chuyên đề "Công nghệ môi trường xanh xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn thực hiện trách nhiệm EPR và các mục tiêu phát triển bền vững" thu hút nhiều doanh nghiệp, chuyên gia tham dự.

Nếu không xử lí tốt, giữa hai vật liệu sẽ hình thành lớp phân cách, làm giảm độ bền và ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng thực tế.

Cùng với đó là sự khác biệt về tính chất hóa học. Nhựa có tính kỵ nước, trong khi sợi sinh học lại hút nước. Hai vật liệu này vốn không dễ hòa hợp. Bài toán đặt ra là phải có công nghệ xử lí phù hợp để tạo sự liên kết ổn định.

Song song vấn đề nhiệt độ trong quá trình sản xuất. Nhựa tái chế như HDPE, PP, PE cần nhiệt độ cao để gia công, nhưng sợi sinh học như tre, nứa có thể bị phân hủy ở khoảng 180-190°C. Vì vậy, kiểm soát nhiệt trong sản xuất là một rào cản kỹ thuật quan trọng.

Cuối cùng là câu chuyện về dấu chân carbon. Chúng ta thường nghĩ vật liệu tái chế hoặc vật liệu sinh học đương nhiên thân thiện môi trường hơn. Nhưng đánh giá xanh phải dựa trên toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển, sử dụng đến xử lí sau tiêu dùng.

Một sản phẩm có thành phần tái chế chưa chắc đã phát thải thấp nếu quá trình sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng hoặc sử dụng công nghệ chưa tối ưu.

Vì vậy, vật liệu xanh không chỉ là thay thế một loại nguyên liệu bằng một loại nguyên liệu khác. Đây là bài toán của cả chuỗi giá trị.

EPR sẽ tạo áp lực buộc doanh nghiệp chuyển đổi

- Vậy khả năng thương mại hóa vật liệu này và thay thế bao bì nhựa truyền thống trong tương lai như thế nào, thưa ông?

- PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm: Hiện nay, chúng ta đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm ban đầu và đang bước vào giai đoạn ứng dụng bao bì sinh học trong thực tế.

Một số doanh nghiệp lớn, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, đã đi trước trong quá trình chuyển đổi. Những thương hiệu như Starbucks, Highlands hay Vinamilk đã triển khai sử dụng các giải pháp bao bì thân thiện môi trường trong một số hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Dây chuyền phân loại và thu hồi vật liệu tại một cơ sở tái chế. Ảnh minh họa.
Dây chuyền phân loại và thu hồi vật liệu tại một cơ sở tái chế. Ảnh minh họa.

Ở nhóm doanh nghiệp này, tỉ lệ sử dụng bao bì sinh học hiện khoảng 20-30%. Tuy nhiên, thị trường chung vẫn còn khoảng cách lớn. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn sử dụng bao bì truyền thống, chiếm khoảng 70% thị trường. Trong nhóm này, tỉ lệ bao bì sinh học mới chỉ khoảng 2-3%.

Điều này cho thấy chuyển đổi xanh hiện vẫn tập trung ở nhóm doanh nghiệp có tiềm lực, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ còn gặp khó khăn về chi phí, công nghệ và nguồn nguyên liệu.

Tuy nhiên, xu hướng này sẽ thay đổi khi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được triển khai đầy đủ.

EPR không chỉ là câu chuyện xử lí chất thải. Đây là cơ chế buộc doanh nghiệp phải thay đổi tư duy sản xuất, từ thiết kế sản phẩm, lựa chọn nguyên liệu đến trách nhiệm sau tiêu dùng.

Khi chi phí môi trường được tính đầy đủ vào quá trình sản xuất, doanh nghiệp sẽ phải chuyển đổi sang các giải pháp xanh hơn.

Tôi cho rằng thị trường vật liệu xanh sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới. Nếu công nghệ, chính sách và thị trường cùng được thúc đẩy, đến năm 2030, tỉ lệ sử dụng bao bì sinh học có thể tăng lên mức 60-70% so với bao bì truyền thống.

Dữ liệu là nền tảng mới của quản trị môi trường

- Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi như thế nào trong lĩnh vực tài nguyên môi trường, thưa ông?

- PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm: Chuyển đổi số trong ngành tài nguyên môi trường là xu hướng không thể đảo ngược. Đây là lĩnh vực tạo ra lượng dữ liệu rất lớn, từ quản lí chất thải, tài nguyên nước, đất đai, khí thải đến giám sát chất lượng môi trường. Nếu không số hóa, chúng ta sẽ khó quản lí hiệu quả trong bối cảnh phát triển nhanh của đô thị và công nghiệp.

Công nhân phân loại chất thải trên dây chuyền tách lọc rác tại TP.HCM. Ảnh: Công nghiệp Môi trường.
Công nhân phân loại chất thải trên dây chuyền tách lọc rác tại TP.HCM. Ảnh: Công nghiệp Môi trường.

Các mô hình như quản lí chất thải thông minh, quản lí nước thông minh, giám sát môi trường trực tuyến hay các thủ tục môi trường trên nền tảng số sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lí. Quan trọng hơn, dữ liệu môi trường sẽ giúp cơ quan quản lí chuyển từ cách tiếp cận xử lí sự cố sang dự báo và phòng ngừa rủi ro.

Đây là sự thay đổi lớn trong tư duy quản trị. Chuyển đổi số ngành tài nguyên môi trường không chỉ phục vụ quản lí nhà nước mà còn góp phần xây dựng chính phủ số, phát triển kinh tế xanh và nâng cao chất lượng cuộc sống.

- Trước những xu hướng mới, nhà trường có định hướng đào tạo nguồn nhân lực như thế nào để đáp ứng nhu cầu thị trường?

- PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm: Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM đang rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Trong thời gian tới, nhà trường sẽ tăng cường các nội dung đào tạo về kiểm kê khí nhà kính, Net Zero, thị trường carbon, tín chỉ carbon, tái chế chất thải trong kinh tế tuần hoàn, công nghệ xanh và trí tuệ nhân tạo.

Ngành tài nguyên môi trường trong tương lai sẽ không còn là lĩnh vực chỉ dựa trên kiến thức môi trường truyền thống. Người lao động cần hiểu công nghệ, dữ liệu và các mô hình quản trị mới. Sự kết hợp giữa khoa học môi trường, công nghệ số và tư duy đổi mới sẽ tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế xanh.

Đây cũng là điều kiện quan trọng để Việt Nam thực hiện các mục tiêu về giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số quốc gia.

Hoàng Bắc