Số hóa quản lí chất lượng, tăng minh bạch thị trường hàng hóa
Quản lí chất lượng sản phẩm, hàng hóa đang chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo rủi ro, buộc doanh nghiệp TP.HCM chủ động hơn trong công bố và duy trì chất lượng.
Hàng hóa được quản lý theo ba mức độ rủi ro
Một thay đổi đáng chú ý trong quản lí chất lượng sản phẩm, hàng hóa là chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm dựa trên quản lí rủi ro”. Cách tiếp cận này nhằm giảm thủ tục cho doanh nghiệp tuân thủ tốt, nhưng đồng thời tăng trách nhiệm tự chịu trách nhiệm và khả năng bị kiểm tra sau khi hàng hóa được đưa ra thị trường.
Thông tin được các chuyên gia của Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia phổ biến tại hội nghị do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phối hợp tổ chức ngày 22/7.

Theo nội dung được phổ biến, sản phẩm, hàng hóa được phân loại và quản lý theo ba mức độ rủi ro. Với nhóm rủi ro thấp, doanh nghiệp thực hiện tự công bố tiêu chuẩn áp dụng, tự chịu trách nhiệm và chịu hậu kiểm.
Sản phẩm, hàng hóa thuộc mức rủi ro trung bình phải tự công bố tiêu chuẩn áp dụng kết hợp đánh giá, chứng nhận hợp quy theo yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật.
Đối với mức rủi ro cao, sản phẩm, hàng hóa bắt buộc phải được chứng nhận hợp quy bởi tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định.
Việc phân tầng theo mức độ rủi ro cho thấy phương thức quản lí đang thay đổi theo hướng tập trung nguồn lực kiểm soát vào những nhóm hàng hóa có nguy cơ cao hơn, thay vì áp dụng cùng một mức kiểm soát cho tất cả sản phẩm.
Tuy nhiên, giảm tiền kiểm không đồng nghĩa giảm trách nhiệm của doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Khôi, Trưởng ban Tiêu chuẩn và bà Nguyễn Thị Mai Hương, Trưởng ban Quản lý chất lượng và đánh giá sự phù hợp thuộc Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, đã hệ thống hóa các điểm mới và nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện.
Theo đó, nghĩa vụ bảo đảm chất lượng không dừng ở thời điểm hàng hóa được đưa ra thị trường mà kéo dài trong toàn bộ vòng đời, từ thiết kế, sản xuất, lưu thông đến hậu kiểm và xử lí thu hồi.
Doanh nghiệp thực hiện tự công bố tiêu chuẩn áp dụng phải lưu giữ đầy đủ hồ sơ chứng minh, kiểm soát quá trình sản xuất và duy trì sự phù hợp của sản phẩm.
Các yêu cầu này không chỉ áp dụng với hàng hóa sản xuất trong nước mà còn bao gồm hàng nhập khẩu và hoạt động kinh doanh, lưu thông hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử.
Đây là điểm doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý. Khi cơ chế quản lí chuyển sang hậu kiểm, trách nhiệm chứng minh chất lượng chuyển nhiều hơn về phía tổ chức, cá nhân đưa sản phẩm ra thị trường.
Cơ quan quản lý cũng tăng kiểm soát những hành vi gian dối. Các trường hợp cung cấp thông tin, quảng cáo sai sự thật, gian dối trong đánh giá sự phù hợp hoặc lợi dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc nhóm hành vi bị nghiêm cấm.
Phát biểu tại hội nghị, bà Võ Đình Liên Ngọc, Phó Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng TP.HCM, cho biết việc phổ biến quy định nhằm giúp cơ quan quản lí và doanh nghiệp cập nhật kịp thời những điểm mới về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Theo bà Ngọc, qua đó có thể nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong công bố, áp dụng tiêu chuẩn và bảo đảm chất lượng hàng hóa khi đưa ra thị trường.
Số hóa quản lí chất lượng, tăng minh bạch thị trường
Cùng với thay đổi phương thức hậu kiểm, quản lí chất lượng sản phẩm đang được đẩy mạnh trên môi trường số.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được định hướng trở thành công cụ giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng tra cứu thông tin chuẩn hóa.

Dữ liệu gồm hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn cơ sở và các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, IEC, EN, BSI; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn địa phương; thông tin công bố hợp chuẩn, hợp quy và danh sách các tổ chức đánh giá sự phù hợp đã đăng kí, chỉ định hoặc được công nhận.
Một chức năng đáng chú ý là cơ chế cảnh báo sớm và công khai thông tin xử lí vi phạm. Điều này giúp tăng khả năng tiếp cận thông tin của người tiêu dùng, đồng thời tạo sức ép để doanh nghiệp duy trì chất lượng sau khi sản phẩm đã lưu thông.
Hệ thống cũng cho phép áp dụng trực tiếp một số tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ mới, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cùng với cơ sở dữ liệu, nhiều công cụ số được đưa vào quản lí chất lượng xuyên suốt vòng đời sản phẩm như truy xuất nguồn gốc điện tử, mã số mã vạch GS1, GTIN, nhãn điện tử và hộ chiếu số sản phẩm.
Việc số hóa có thể giúp cơ quan quản lí theo dõi sản phẩm từ sản xuất đến lưu thông, đồng thời giúp doanh nghiệp chuẩn hóa dữ liệu khi tham gia chuỗi cung ứng.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, truy xuất nguồn gốc và hộ chiếu số sản phẩm ngày càng có ý nghĩa khi nhiều thị trường tăng yêu cầu về nguồn gốc, thành phần và thông tin vòng đời sản phẩm.
Doanh nghiệp cũng đặt nhiều câu hỏi về quy trình tự công bố tiêu chuẩn áp dụng, hồ sơ chứng minh sự phù hợp, lộ trình triển khai nhãn điện tử, hộ chiếu số và căn cứ thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp đối với hàng hóa nhập khẩu.
Các chuyên gia của Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đã trực tiếp giải đáp những vướng mắc này.
Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm mở thêm không gian chủ động cho doanh nghiệp nhưng cũng đặt trách nhiệm lớn hơn lên chính doanh nghiệp.
Thay vì chỉ hoàn tất thủ tục trước khi sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp phải duy trì khả năng chứng minh chất lượng trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh.
Với TP.HCM, nơi có quy mô sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu lớn, những thay đổi này tác động trực tiếp đến nhiều nhóm doanh nghiệp. Chủ động cập nhật tiêu chuẩn, số hóa hồ sơ và kiểm soát chất lượng từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro khi cơ chế hậu kiểm được tăng cường.