Nhịp đập công nghệ

Sau đột quỵ, vì sao nhiều bệnh nhân mất kiểm soát việc tiểu tiện?

Hồ Quang 26/07/2026 10:03

Sau đột quỵ, nhiều bệnh nhân gặp tình trạng tiểu không tự chủ, bàng quang tăng hoạt, ảnh hưởng chất lượng sống và phục hồi.

Sau đột quỵ, bên cạnh những di chứng thường gặp như liệt, rối loạn vận động hay ngôn ngữ, nhiều bệnh nhân còn phải đối mặt với tình trạng rối loạn tiểu tiện. Đáng chú ý, bàng quang tăng hoạt và tiểu không tự chủ không chỉ gây bất tiện trong sinh hoạt mà còn ảnh hưởng đến tâm lí, chất lượng sống và quá trình phục hồi chức năng của người bệnh.

Tổn thương não làm “đứt gãy” cơ chế kiểm soát bàng quang

Theo PGS.TS Đỗ Đào Vũ – Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai, tỉ lệ bệnh nhân gặp tình trạng tiểu không tự chủ sau đột quỵ dao động từ 28–79%. Trong số này, khoảng 40–60% người bệnh đã có biểu hiện tiểu không tự chủ ngay khi nhập viện. Đặc biệt, trong tháng đầu tiên sau đột quỵ, các triệu chứng thần kinh – tiết niệu có thể xuất hiện với tỉ lệ từ 57–83%.

sau-dpt-quy-vi-sao-nhieu-bneh-nhan-mat-kiem-soat-viec-tieu-tien-hinh-anh.png
Sau đột quỵ, nhiều bệnh nhân gặp tình trạng tiểu không tự chủ, bàng quang tăng hoạt, ảnh hưởng chất lượng sống và phục hồi. Ảnh: minh họa

Tuy nhiên, tình trạng này không phải lúc nào cũng kéo dài. Khoảng 71–80% trường hợp có thể hồi phục tự nhiên sau 6 tháng. Dù vậy, với những bệnh nhân tiếp tục gặp rối loạn tiểu tiện, đây có thể trở thành một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sống và khả năng phục hồi.

Vậy vì sao một tổn thương xảy ra ở não lại có thể khiến người bệnh mất khả năng kiểm soát việc tiểu tiện?

Phân tích của PGS.TS Đỗ Đào Vũ cho thấy hoạt động của bàng quang vốn được điều khiển bởi một hệ thống thần kinh phức tạp. Trong điều kiện bình thường, bàng quang có thể giãn ra để chứa nước tiểu, trong khi cơ thắt vẫn đóng. Khi đến thời điểm thích hợp, hệ thần kinh điều phối quá trình co bóp bàng quang và mở cơ thắt để nước tiểu được đào thải.

Sau đột quỵ, các vùng não tham gia kiểm soát hoạt động tiểu tiện có thể bị tổn thương. Khi cơ chế ức chế phản xạ tiểu tiện bị suy giảm, cơ bàng quang có thể hoạt động quá mức. Người bệnh từ đó dễ xuất hiện tình trạng buồn tiểu đột ngột, tiểu nhiều lần cả ngày lẫn đêm hoặc tiểu gấp không thể trì hoãn.

“Tổn thương não do đột quỵ thường nằm ở phía trên cầu não. Vì vậy, khác với một số trường hợp tổn thương tủy sống, bệnh nhân đột quỵ thường không mất hoàn toàn khả năng kiểm soát hoạt động của bàng quang và nguy cơ tổn thương thận do áp lực cao thường thấp hơn. Tuy nhiên, tác động về mặt tâm lí và xã hội lại có thể rất lớn, khiến người bệnh mặc cảm, thu mình và ngại giao tiếp.

Không chỉ vậy, tiểu không tự chủ còn có thể kéo theo các vấn đề như tổn thương da, nhiễm trùng đường tiết niệu tái diễn và nguy cơ té ngã khi người bệnh phải vội vàng di chuyển vào nhà vệ sinh, đặc biệt vào ban đêm. Những hệ lụy này có thể tiếp tục làm gián đoạn quá trình phục hồi chức năng vốn đã khó khăn sau đột quỵ”, PGS.TS Đỗ Đào Vũ nói.

Mất kiểm soát tiểu tiện không đồng nghĩa với bàng quang tăng hoạt

Một trong những điểm quan trọng được chuyên gia nhấn mạnh là không nên mặc định mọi trường hợp rối loạn tiểu tiện sau đột quỵ đều là bàng quang tăng hoạt để điều trị theo một phác đồ chung.

Bên cạnh hội chứng bàng quang tăng hoạt (OAB) với biểu hiện điển hình là tiểu gấp và tiểu nhiều lần, người bệnh có thể gặp bí tiểu, tiểu tràn, giảm khả năng co bóp của cơ bàng quang hoặc rối loạn phối hợp giữa cơ bàng quang và cơ thắt. Một nguyên nhân khác là tiểu không tự chủ chức năng, xảy ra khi bàng quang không nhất thiết bị tổn thương nhưng bệnh nhân không thể đến nhà vệ sinh đúng lúc do liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ, suy giảm nhận thức hoặc những hạn chế từ môi trường chăm sóc.

Các bệnh lí tồn tại từ trước, chẳng hạn phì đại lành tính tuyến tiền liệt ở nam giới, cũng có thể khiến tình trạng tiểu tiện trở nên phức tạp hơn sau đột quỵ. Vì vậy, việc đánh giá đúng nguyên nhân là bước quan trọng trước khi quyết định điều trị.

Điều trị cần cá thể hóa, không thể “đánh đồng” người bệnh

Theo các chuyên gia quá trình đánh giá có thể kết hợp nhật kí đi tiểu trong 48–72 giờ cùng các thang điểm chuyên môn như OABSS và ICIQ-UI SF để xác định mức độ triệu chứng và ảnh hưởng đến chất lượng sống. Trong những trường hợp cần thiết, thăm dò niệu động học có thể được sử dụng để làm rõ bản chất rối loạn chức năng đường tiểu dưới.

Điều trị thường bắt đầu từ các biện pháp ít xâm lấn như giáo dục người bệnh và gia đình, đi tiểu theo giờ, luyện tập bàng quang, kiểm soát lượng dịch đưa vào cơ thể, hạn chế caffeine và xử lí táo bón. Với những bệnh nhân hạn chế vận động hoặc nhận thức, việc xây dựng lịch đi tiểu phù hợp có thể giúp giảm các tình huống tiểu không tự chủ.

Khi các biện pháp hành vi chưa đủ hiệu quả, thuốc có thể được cân nhắc. “Qua nghiên cứu của chúng tôi trên 30 bệnh nhân OAB sau đột quỵ trong 4 tuần sử dụng Mirabegron, ghi nhận điểm OABSS trung bình giảm từ 10,97 xuống 5,7 và chỉ số chất lượng sống IPSS-QoL giảm từ 5,51 xuống 3,17. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc cần được bác sĩ đánh giá và theo dõi, đặc biệt ở bệnh nhân có bệnh lí tim mạch”, PGS.TS Đỗ Đào Vũ chia sẻ.

Theo PGS.TS Đỗ Đào Vũ, rối loạn tiểu tiện cần được nhìn nhận như một phần trong bức tranh phục hồi toàn diện sau đột quỵ. Điều quan trọng là không bỏ sót các triệu chứng OAB và tiểu gấp, đồng thời không điều trị một cách máy móc khi chưa xác định chính xác nguyên nhân.

Việc phân biệt bàng quang tăng hoạt với bí tiểu, tiểu không tự chủ chức năng và các bệnh lí tiết niệu khác, kết hợp đánh giá lượng nước tiểu tồn lưu và theo dõi nhật kí đi tiểu, có ý nghĩa quan trọng trong lựa chọn chiến lược điều trị an toàn cho từng người bệnh.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giúp bệnh nhân có thể đi lại hay tự thực hiện các hoạt động hằng ngày. Kiểm soát được tình trạng tiểu tiện cũng góp phần giúp người bệnh lấy lại sự tự tin, giảm phụ thuộc vào người chăm sóc và cải thiện chất lượng sống.

Vì vậy, chăm sóc bệnh nhân sau đột quỵ cần có sự phối hợp giữa chuyên ngành đột quỵ, phục hồi chức năng, niệu thần kinh và điều dưỡng. Khi những “nỗi khổ khó nói” được nhận diện sớm và điều trị đúng hướng, hành trình phục hồi của người bệnh có thể trở nên chủ động và toàn diện hơn.

Hồ Quang