Phó chủ tịch Viện phát triển kinh tế số Việt Nam nói về 'tấm hộ chiếu xanh' đón dòng vốn toàn cầu
ESG (môi trường - xã hội - quản trị) đang trở thành tiêu chuẩn mới của thị trường tài chính toàn cầu. Dòng vốn quốc tế tìm kiếm doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, ưu tiên những doanh nghiệp minh bạch, quản trị tốt và có lộ trình giảm phát thải rõ ràng.
Tại Hội thảo khoa học “Từ Beyond ESG đến NetGSE - Cách tiếp cận mới cho tài chính xanh, thị trường carbon và chuyển đổi kinh tế bền vững trong kỷ nguyên AI” (ngày 27/7, tại TP.HCM), TS. Mai Hữu Minh - Phó chủ tịch Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam (VIDE), Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để thu hút dòng vốn xanh trị giá hàng chục nghìn tỉ USD.

Tuy nhiên, muốn biến cơ hội thành hiện thực, Việt Nam phải xây dựng hạ tầng dữ liệu ESG, hoàn thiện thị trường carbon và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.
ESG trở thành "luật chơi" mới của dòng vốn toàn cầu
Theo TS. Mai Hữu Minh, ESG đã vượt xa khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp để trở thành tiêu chuẩn quyết định khả năng tiếp cận vốn trên thị trường tài chính quốc tế.
Nền móng của ESG hình thành từ phong trào đầu tư có trách nhiệm xã hội (SRI) trong những năm 1960-1970. Nhưng bước ngoặt xuất hiện năm 2004 khi Liên Hợp Quốc công bố báo cáo Who Cares Wins, lần đầu chính thức đưa thuật ngữ ESG vào lĩnh vực tài chính.

Tiếp đó, Bộ nguyên tắc đầu tư có trách nhiệm của Liên Hợp Quốc (UN PRI), Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu và 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) đã đưa ESG trở thành xu hướng toàn cầu.
"Trước đây, doanh nghiệp có thể lựa chọn công bố hay không công bố thông tin ESG. Hiện nay, xu hướng đang chuyển sang bắt buộc. Dữ liệu phát thải, quản trị và lao động sẽ dần được kiểm toán như báo cáo tài chính", TS. Mai Hữu Minh nhận định.
Xu hướng này được thúc đẩy bởi các chuẩn mực báo cáo quốc tế như ISSB và Chỉ thị Báo cáo bền vững doanh nghiệp (CSRD) của Liên minh châu Âu.
Theo ông Minh, thay đổi lớn nhất nằm ở dữ liệu. Nếu dữ liệu tài chính quyết định khả năng vay vốn trong thế kỉ trước, dữ liệu ESG sẽ quyết định khả năng tiếp cận dòng vốn trong nhiều thập niên tới.
Bloomberg Intelligence ước tính tổng tài sản đầu tư tích hợp ESG hiện khoảng 30.000 tỉ USD, có thể vượt 40.000 tỉ USD vào năm 2030. Các tổ chức quản lí tài sản như BlackRock, Vanguard, State Street cùng nhiều quỹ hưu trí lớn đã sử dụng hệ thống xếp hạng ESG của MSCI, S&P Global, FTSE Russell hay LSEG để lựa chọn doanh nghiệp.
Theo TS. Mai Hữu Minh, doanh nghiệp có điểm ESG thấp có thể bị loại khỏi danh mục đầu tư dù vẫn tăng trưởng tốt. Trong khi doanh nghiệp có chiến lược chuyển đổi xanh rõ ràng thường tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn.
Ông cho rằng quy mô dòng vốn ESG hiện lớn gấp nhiều chục lần GDP Việt Nam. Nếu xây dựng được hệ thống dữ liệu minh bạch và thị trường tài chính xanh đủ tin cậy, Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút thêm hàng chục tỉ USD vốn đầu tư chất lượng cao trong thập niên tới.
Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi ESG bắt buộc
Theo TS. Mai Hữu Minh, Việt Nam đang chuyển rất nhanh từ giai đoạn khuyến khích sang giai đoạn chuẩn hóa và bắt buộc về ESG.
Động lực lớn nhất là cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 tại COP26. Cam kết này đang tác động đến toàn bộ chính sách phát triển từ năng lượng, công nghiệp, giao thông đến tài chính.
Cùng với đó là sức ép từ thương mại quốc tế. Liên minh châu Âu đã triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), buộc nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phải chứng minh lượng phát thải trong quá trình sản xuất.
"CBAM thực chất là cơ chế buộc doanh nghiệp phải minh bạch toàn bộ lượng phát thải. Ai không chứng minh được dữ liệu sẽ rất khó cạnh tranh", TS. Mai Hữu Minh phân tích.
Theo ông, yêu cầu ESG hiện cũng lan rộng trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia như LEGO, Samsung, Intel, Apple hay Nestlé. Muốn tiếp tục tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn xanh.
Về pháp lí, Việt Nam chưa có Luật ESG riêng nhưng các nguyên tắc ESG đã được tích hợp vào nhiều văn bản quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường 2020, Thông tư 96/2020/TT-BTC về công bố thông tin phát triển bền vững và Nghị định 06/2022/NĐ-CP về kiểm kê khí nhà kính.
Theo TS. Mai Hữu Minh, cách tiếp cận này phù hợp với điều kiện Việt Nam nhưng đồng nghĩa yêu cầu tuân thủ sẽ ngày càng chặt chẽ khi thị trường carbon và tài chính xanh phát triển.
Dữ liệu ESG là chìa khóa mở dòng vốn xanh
Theo TS. Mai Hữu Minh, điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hiện nay không phải công nghệ hay vốn mà là dữ liệu. "Không đo được thì không thể quản lí. Không quản lí được thì không thể giảm phát thải", ông nói.
Điều này thể hiện rõ ở quá trình xây dựng thị trường tín chỉ carbon. Muốn thị trường vận hành hiệu quả phải có ba điều kiện: khung pháp lí rõ ràng, hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV) chính xác và cơ chế kiểm chứng độc lập.

Hiện nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có hệ thống theo dõi phát thải, việc tính toán dấu chân carbon còn thủ công. Trong khi chi phí thuê tổ chức quốc tế kiểm định rất cao. Việt Nam cũng thiếu các đơn vị xác nhận phát thải đạt chuẩn quốc tế.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu áp lực lớn nhất, chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp. Nhóm này thường thiếu vốn để đầu tư công nghệ xanh, không tạo được dữ liệu ESG. Vì vậy khó tiếp cận tín dụng xanh cũng như các quỹ đầu tư quốc tế.
Một nút thắt khác là Việt Nam chưa có Hệ thống phân loại xanh quốc gia (National Green Taxonomy) hoàn chỉnh. Điều này khiến ngân hàng và nhà đầu tư gặp khó khi xác định dự án nào đủ tiêu chuẩn xanh, đồng thời làm gia tăng nguy cơ "tẩy xanh".
Theo TS. Mai Hữu Minh, muốn thu hút dòng vốn xanh quy mô lớn, Việt Nam cần ưu tiên xây dựng hạ tầng dữ liệu ESG, chuẩn hóa hệ thống đo lường phát thải và phát triển thị trường carbon minh bạch.
"Dữ liệu minh bạch chính là nền tảng tạo dựng niềm tin. Khi có niềm tin, dòng vốn xanh sẽ đến. ESG vì thế không phải là chi phí tuân thủ mà là tấm hộ chiếu để doanh nghiệp Việt Nam bước vào chuỗi giá trị và thị trường vốn toàn cầu", TS. Mai Hữu Minh nhấn mạnh.



