Cuộc đời nhà khoa học

GS. Đặng Văn Ngữ - Người mang sự sống từ chiến khu ra mặt trậnKỳ 2: GS. Đặng Văn Ngữ và 'trò xiếc thí nghiệm' ở chùa

Hồng Thanh, Nam Phong

Giữa liên khu IV gian khổ, trò xiếc thí nghiệm đã giúp Giáo sư Đặng Văn Ngữ bào chế thành công kháng sinh cứu thương binh.

GS. Đặng Văn Ngữ
GS. Đặng Văn Ngữ

Kì 1: Lựa chọn dấn thân và bản giao hưởng từ Tokyo đến Chiến khu Việt Bắc

"Vũ khí sinh học" chống hoại tử giữa lòng chiến khu

Chất kháng sinh là một phát hiện có ý nghĩa to lớn đối với y học thế giới. Penicillin được phát hiện bởi Alexander Fleming vào năm 1928, khi ông vô tình để nấm mốc lọt vào thí nghiệm và quan sát thấy vi khuẩn đã biến mất xung quanh nấm mốc. Ông đã dùng chính tên loại nấm Penicillin để đặt cho chất mà mình vừa tìm ra, nhưng phải 10 năm sau thì Penicillin mới được nhà hoá sinh người Anh gốc Đức - Ernest Chain và nhà nghiên cứu bệnh học Australia - Howard Florey cùng một số nhà khoa học khác nghiên cứu kỹ.

Penicillin sát trùng bằng cách giết vi khuẩn và hạn chế sự sinh trưởng của chúng. Trong Chiến tranh thế giới II, một nhóm các nhà khoa học tìm kiếm cách chữa trị cho những vết thương bị nhiễm trùng của binh sĩ, đã tình cờ phát hiện ra khám phá của Fleming và thử nghiệm với một dạng của nấm mốc đó. Ngay sau đó, nó được sản xuất với số lượng lớn để đưa ra các mặt trận.

BS. Đặng Văn Ngữ (giữa) trong thời gian học tại Đông Kinh học xá – Nhật Bản (1943 – 1949). Ảnh: nghiencuulichsu
BS. Đặng Văn Ngữ (giữa) trong thời gian học tại Đông Kinh học xá – Nhật Bản (1943 – 1949). Ảnh tư liệu

Khi chất kháng sinh Penicillin được điều chế thành công và sử dụng rộng rãi thì bác sĩ Đặng Văn Ngữ là trưởng Labo thí nghiệm Kí sinh trùng, trường Đại học Y Đông Dương và đồng thời đã công bố hàng chục công trình nghiên cứu khoa học có giá trị.

Năm 1943, bác sĩ Đặng Văn Ngữ sang Nhật Bản để du học và tiếp tục những dự định khoa học riêng của mình. Để rồi 6 năm sau, cuối năm 1949, ông lên đường trở về nước với những hành trang quý giá. Đó là những kiến thức y học của Nhật, các nước phương Tây và đặc biệt là mang theo Souche Penicillium (giống Penicillium) để điều chế thuốc kháng sinh Penicillin.

Cuối tháng 12/1949, dưới sự sắp xếp của tổ chức, bác sĩ Đặng Văn Ngữ trở về Liên khu IV. Tại đây, ông được tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa những nghiên cứu của mình. Tình hình cuộc kháng chiến ngày một ác liệt hơn, thương binh ngoài mặt trận ngày một nhiều hơn là lí do thôi thúc bác sĩ Đặng Văn Ngữ quyết tâm chiến thắng hoàn cảnh, đem Penicillin để phục vụ cứu chữa thương bệnh binh.

trạm cứu thương
Nữ y tá chăm sóc thương binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. (Ảnh tư liệu)

Nhưng trong những năm tháng khó khăn ấy, dụng cụ và trang thiết bị để phục vụ nghiên cứu cũng là một trong những cản trở lớn để ông thực hiện những dự định. Vào Tết nguyên đán năm 1950, ngôi chùa Yên Thành được sửa sang để làm phòng thí nghiệm nghiên cứu kháng sinh.

Trò xiếc thí nghiệm và quy trình chế tạo giữa bộn bề thiếu thốn

Sản xuất kháng sinh vốn là một quy trình kỹ thuật cao đòi hỏi phòng thí nghiệm vô trùng tuyệt đối với hệ thống cân đo, ống nghiệm và hóa chất chuyên dụng. Tuy nhiên, tại phòng thí nghiệm dã chiến ở chùa Yên Thành vào đầu năm 1950, những điều kiện đó hoàn toàn bằng không. Không có cân chính xác, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã khắc phục bằng cách sử dụng phương pháp so thể tích; không có bàn thí nghiệm chuẩn, ông lấy hạt mễ kê làm bàn thao tác; các loại ống nghiệm được thay thế bằng ống tre thông thường, đĩa nuôi cấy được thay bằng các vật dụng phù hợp, còn ống dẫn chỉ đơn giản là những đoạn ống sậy cắt gọt khéo léo.

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ được 2 thanh niên giúp việc - là những người chưa hề biết đến những chiếc ống nghiệm hay giống nấm là gì, nhưng lòng nhiệt thành của họ thì rất lớn. Tinh thần tự lực cánh sinh thông qua phương pháp thực hiện trò xiếc thí nghiệm từ đó ra đời, gắn liền với nỗ lực phi thường của nhà khoa học cùng các đồng sự vượt qua mọi giới hạn ngặt nghèo của hoàn cảnh chiến tranh.

hanh-trinh-gs-dang-van-ngu-tao-ra-thu-nuoc-than-ky-trong-labo-tam-.jpg

Như sau này ông viết: “Chúng tôi không ngồi đợi có đầy đủ phương tiện mới nghiên cứu. Không có bàn, chúng tôi bầy mễ làm việc. Cân chính xác thiếu, chúng tôi đo bằng lối so thể tích. Ống tre thay cho eprouvette, đĩa là boite de Pétri, cylinder chỉ là những ống sậy. Cứ như thế, chúng tôi cọc cạch làm việc cho tới khi phi cơ oanh tạc Cát Văn. Phòng thí nghiệm không còn điện đàng hoàng như trước nữa. Mỗi lúc muốn làm bột Penicillin chúng tôi phải bê dụng cụ đến tận Cát Văn và chính trong những khó khăn chật vật như thế, ba lọ Penicillin bột đã ra đời, mỗi lọ chừng hai vạn đơn vị”.

trò xiếc thí nghiệm
Bác sĩ Đặng Văn Ngữ kiểm tra nước lọc penicillin trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh tư liệu)

Phòng thí nghiệm Yên Thành có một giá trị đáng ghi, nó chứng minh rằng với những nguyên vật liệu của xứ nhà, với những phương tiện tầm thường, chúng tôi đã làm được bội Penicillin tiêm: Sáu vạn đơn vị Penicillin sản xuất trong tháng 5-1950. Đây là công trình và kết quả của một “trò xiếc thí nghiệm” tài tình .

GS. Đặng Văn Ngữ

Nhìn lại những thành quả đầy gian khó này, chính GS. Đặng Văn Ngữ đã khiêm nhường ví von chúng như một “trò xiếc thí nghiệm” tài tình, minh chứng cho sức mạnh sáng tạo không giới hạn của trí tuệ Việt Nam trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Ông nhấn mạnh: “Phòng thí nghiệm Yên Thành có một giá trị đáng ghi, nó chứng minh rằng với những nguyên vật liệu của xứ nhà, với những phương tiện tầm thường, chúng tôi đã làm được bội Penicillin tiêm: Sáu vạn đơn vị Penicillin sản xuất trong tháng 5-1950. Đây là công trình và kết quả của một “trò xiếc thí nghiệm” tài tình.

Mạng lưới nước lọc kháng sinh cứu thương binh

Việc chế tạo thành công bột Penicillin là một thành công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn chồng chất. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ làm sao có thể sản xuất được thật nhiều penicillin, đáp ứng nhu cầu kháng khuẩn của các thương bệnh binh ngoài mặt trận? Làm sao để bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được Penicillin, phổ biến nó một cách rộng rãi, thông dụng nhất. Đó là một câu hỏi đã khiến bác sĩ Đặng Văn Ngữ trăn trở suốt nhiều ngày đêm.

Tháng 5/1950, bác sĩ Đặng Văn Ngữ được mời lên Việt Bắc để phụ trách phòng thí nghiệm của trường Đại học Y khoa. Ở đó, ông đã có dịp tổ chức nghiên cứu các chất kháng sinh trên những nguyên tắc tổ chức mới. Ông nhận ra rằng, việc sản xuất Penicillin kết tinh (bột) là một công việc đòi hỏi thời gian lâu dài, do vậy, nó không thể thỏa mãn được nhu cầu cấp thiết của quân đội và nhân dân. Tin chiến thắng ngoài mặt trân liên tiếp được báo về, nhưng đồng thời số thương binh cũng tăng lên nhiều và đòi hỏi một thứ thuốc có thể nhanh chóng chữa lành các vết thương.

Sự phân tán tổ chức sẽ giải quyết được vấn đề chuyển vận nguyên liệu chế tạo và người sử dụng không cần tìm thuốc ở đâu xa; nó sẽ xuất hiện hằng ngày bên cạnh bệnh nhân và thường xuyên nó chờ đợi người y sĩ tới sử dụng nó.

GS. Đặng Văn Ngữ

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ và các giáo sư của trường Y đều nhận ra rằng nước lọc Penicillin có tác dụng và hiệu lực hơn cả Penicillin kết tinh nếu dùng nó để chữa trị tại chỗ các vết thương phẫu thuật nhiễm trùng. Xác định như vậy, ông đã quyết tâm và dành toàn bộ tâm trí để sản xuất nước lọc Penicillin.

Để đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, việc sản xuất nước lọc penicillin không thể tiến hành ở một cơ sở hay một phòng thí nghiệm. Nó cần được phân tán thành nhiều tổ sản xuất, gắn liền với các đơn vị của bộ đội. Theo GS Đặng Văn Ngữ thì: “Sự phân tán tổ chức sẽ giải quyết được vấn đề chuyển vận nguyên liệu chế tạo và người sử dụng không cần tìm thuốc ở đâu xa; nó sẽ xuất hiện hằng ngày bên cạnh bệnh nhân và thường xuyên nó chờ đợi người y sĩ tới sử dụng nó”.

20260801_095434.jpg
Bác sĩ Đặng Văn Ngữ (thứ nhất từ phải sang) giảng bài cho sinh viên Đại học Y Dược (1952). (Ảnh tư liệu)

Các lớp học điều chế nước lọc Penicillin được thành lập, thu hút các dược sĩ, bác sĩ, sinh viên y dược, dược tá… Nước thân cây ngô có chứa nhiều glucose được nấu lên rồi cấy nấm bằng giống của phòng thí nghiệm được thực hiện đều đặn. Việc lấy nước từ thân cây ngô cũng là một sự sáng tạo vô cùng độc đáo, bắt nguồn từ hoàn cảnh của cuộc kháng chiến. Cây ngô rất sẵn trong nhân dân, nước từ thân cây ngô là môi trường lí tưởng để nuôi cấy nấm penicillin. Nhờ vào nguồn nước lọc kháng sinh được sản xuất và sử dụng ngay tại các chiến dịch lớn

Thời gian huấn luyện kéo dài khoảng hai tuần là học viên có thể nắm rõ các quy trình của việc nuôi cấy và sản xuất nước lọc Penicillin. Song song với việc huấn luyện trực tiếp, Tập san Penicillin được phát hành hàng tháng, cũng là một công cụ hữu hiệu để phổ biến kiến thức của phòng thí nghiệm của trường Đại học Y với các cơ sở ở địa phương.

BS. Đặng Văn Ngữ (ngồi) làm việc với chuyên gia Trung Quốc tại Việt Bắc. Ảnh đang được trưng bày tại Công viên Di sản các nhà Khoa học Việt Nam - MEDDOM
BS. Đặng Văn Ngữ (ngồi) làm việc với chuyên gia Trung Quốc tại Việt Bắc. Ảnh tư liệu

GS Đặng Văn Ngữ đánh giá mỗi tổ sản xuất nước lọc Penicillin ở địa phương giống như một bó đuốc khoa học: “Một tổ sản xuất Penicillin thiết lập ở một thôn là một bó đuốc khoa học đã nhóm cháy ở đấy, và người nông dân mộc mạc hồn nhiên sẽ được trông thấy cũng như rồi đây sẽ tự tay mình chế tạo lấy cái thứ thuốc thần diệu của y học hiện đại”.

Việc sản xuất được nước lọc Penicillin của GS. Đặng Văn Ngữ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là ở giai đoạn sau của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhờ đó mà nhiều thương binh được chữa khỏi, không bị cưa chân tay.

Những thành tích sáng chói của nước lọc Penicillin qua các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám và gần đây nhất, kết quả rực rỡ của nước lọc Penicillin trong chiến dịch Lý Thường Kiệt càng làm phấn chấn anh chị em dược tá Penicillin đang cần cù và hăng hái xây dựng một ngành y mới của y học trong khi phục vụ tiền tuyến.

GS. Hồ Đắc Di, Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa

GS. Tôn Thất Tùng, một trong những trụ cột của trường Y trong kháng chiến cho rằng đó là một điều kì diệu. Ông nhấn mạnh: “Mỗi chiến dịch, quân y đưa ra tiền tuyến một tổ Penicillin để sản xuất kháng sinh dùng ngay trên mặt trận. Đây là một thành tích kỳ diệu mà từ xưa đến nay, trong các cuộc chiến tranh du kích chưa ai đã làm được như vậy với những dụng cụ thô sơ, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn”.

Sẽ thật là khập khiễng nếu so sánh những thành tựu y học của ngày nay với sáng tạo khoa học của thập niên hơn 70 năm về trước. Những cố gắng, sáng tạo của GS Đặng Văn Ngữ trong bối cảnh khó khăn đã góp phần vào thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Pháp. Penicillin đã được ghi vào lịch sử y khoa Việt Nam và GS Đặng Văn Ngữ sẽ được ghi nhớ mãi mãi với tư cách là Giáo sư Penicillin.

** Mời bạn đọc đón đọc kỳ 2: Đi B để thực hiện ý tưởng sớm nhất thế giới về vắc-xin phòng sốt rét vào lúc 9h ngày 5/8.

Hồng Thanh, Nam Phong