Hỏi - Đáp

Nông nghiệp carbon thấp: Chìa khóa để ĐBSCL ‘cất cánh’ từ những cánh đồng

Văn Kim Khanh 08/08/2026 07:38

PGS. TS. Châu Minh Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, khẳng định: Ứng dụng khoa học công nghệ cao không chỉ là xu hướng mà đã thành công, mang lại lợi ích kép cho nông dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

- Thưa PGS.TS Châu Minh Khôi, PGS có nhiều công trình nghiên cứu về "Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp" các công trình này cho thấy ĐBSCL có tiềm năng rất lớn để phát triển nông nghiệp carbon thấp. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về những áp lực buộc chúng ta phải chuyển đổi?

ảnh Chau Minh Khoi 1
PGS.TS. Châu Minh Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ. Ảnh: T.L

- PGS. TS. Châu Minh Khôi: Đúng vậy, ĐBSCL là vựa lúa, vựa trái cây của cả nước, với hơn 2,6 triệu ha đất nông nghiệp, đóng góp khoảng 31% GDP toàn ngành và chiếm đến 50% sản lượng lúa cùng 95% lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, canh tác nông nghiệp cũng là nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể. Điển hình như năm 2010, canh tác lúa đã phát thải hơn 44,61 triệu tấn CO2 tương đương, chiếm 18% tổng lượng phát thải của Việt Nam. Các hoạt động như đốt rơm rạ, bón dư thừa phân đạm và ngập nước liên tục trên đồng ruộng đã tạo ra một lượng lớn khí CH4 và N2O. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, hạn hán và xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, việc chuyển dịch sang một nền nông nghiệp carbon thấp không còn là lựa chọn mà là con đường tất yếu để thích ứng và phát triển bền vững.

- Mô hình luân canh lúa - cây trồng cạn có ý nghĩa như thế nào trong việc giảm phát thải và tăng hiệu quả kinh tế?

- PGS. TS. Châu Minh Khôi: Mô hình luân canh lúa - cây trồng cạn là một giải pháp bền vững, đem lại "lợi ích kép". Thay vì chỉ trồng lúa 3 vụ/năm, bà con có thể chuyển đổi sang luân canh với các loại cây như bắp, củ dền, dưa hấu và những cây có khả năng thích ứng trong điều kiện thiếu nước tưới và chống chịu mặn cao. Mô hình này thích hợp ở những vùng bị xâm nhập mặn vào mùa khô nên nhiều rủi ro cho canh tác lúa. Về mặt kinh tế, kết quả thực tế tại Long Phú (Sóc Trăng) cho thấy hiệu quả rất tích cực. So với trồng lúa thuần vào vụ Xuân Hè - thời điểm thường bị xâm nhập mặn và thiếu nước tưới, lợi nhuận từ cây củ dền tăng tới 163%, dưa hấu tăng 75% và bắp tăng 25%. Về môi trường, bên cạnh việc cải thiện chất lượng môi trường đất do luân canh, việc chuyển từ điều kiện yếm khí (ngập nước) sang hiếu khí (cây trồng cạn) đã giúp giảm phát thải CH4 từ 19-63%. Đặc biệt, biện pháp vùi rơm kết hợp với phân hữu cơ, biochar còn có thể giảm đến 50-95% khí CH4.

- Được biết, nhóm nghiên cứu của PGS đã ứng dụng thành công cảm biến ẩm độ đất Chameleon để quản lí nước tưới cho cây trồng cạn vào mùa khô. Thiết bị này mang lại lợi ích cụ thể như thế nào cho bà con nông dân, thưa PGS?

- PGS. TS. Châu Minh Khôi: Cảm biến Chameleon là một ví dụ điển hình cho thấy công nghệ có thể đơn giản, dễ sử dụng nhưng mang lại hiệu quả rất lớn. Thiết bị này có ba màu đèn (xanh dương, xanh lá, đỏ) để báo cho nông dân biết tình trạng ẩm độ đất, từ đó quyết định có nên tưới hay không. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại các mô hình trình diễn cho thấy, so với cách tưới truyền thống, sử dụng Chameleon giúp tiết kiệm từ 43% đến 58% lượng nước tưới cho các loại cây như bắp, củ dền, dưa hấu, trong khi năng suất vẫn được đảm bảo. Không chỉ vậy, việc tưới tiết kiệm còn có tiềm năng giảm tích lũy mặn vào đất, một vấn đề nhức nhối ở ĐBSCL, đồng thời giảm công lao động, giảm chi phí nhiên liệu cho bơm tưới, tăng thời gian và thu nhập cho người nông dân.

DE AN 1 TR 1
Sản xuất theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao trên địa bàn Cần Thơ. Ảnh: H.X

-Những mô hình thành công này cho thấy tiềm năng rất lớn. Tuy nhiên, để nhân rộng và tạo thành một hệ sinh thái bền vững, theo PGS, những "điểm nghẽn" nào cần sớm được tháo gỡ?

- PGS. TS. Châu Minh Khôi: Chúng ta không thể chỉ dừng lại ở một vài mô hình điểm. Để đưa nông nghiệp công nghệ cao và carbon thấp vào cuộc sống, cần phải giải quyết một loạt vấn đề. Tôi thường đề cập đến "7 điểm nghẽn" chính. Đó là: (1) Vốn và tín dụng còn khó tiếp cận; (2) Đất đai manh mún, khó tích tụ cho cơ giới hóa; (3) Nhân lực thiếu lao động có kỹ năng công nghệ; (4) Thị trường đầu ra chưa ổn định và liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo; (5) Hạ tầng như kho lạnh, vận chuyển còn hạn chế; (6) Công nghệ giá thành còn cao, phụ thuộc nhập khẩu; và (7) Chính sách chưa cụ thể rõ ràng để hỗ trợ nông dân và các bên liên quan đầu tư công nghệ thực hiện chuyển đổi hoặc cải tiến điều kiện sản xuất. Để vượt qua, cần có sự chung tay của cả hệ sinh thái "4 nhà": Nhà nước kiến tạo, Nhà khoa học cung cấp tri thức, Doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và quan trọng nhất, người nông dân là trung tâm của quá trình chuyển đổi. Xây dựng được mối liên kết này mới tạo ra sức bật thực sự.

NONGNGHIEP SO 2
Áp dụng công nghệ mới trong gieo sạ hàng. Ảnh: Văn Kim Khanh

- Vậy, với những kết quả nghiên cứu và mô hình thành công như đã trình bày, PGS có thể cho biết con đường để nông dân ĐBSCL tiếp cận với thị trường tín chỉ carbon một khái niệm còn khá mới mẻ?

- PGS. TS. Châu Minh Khôi: Đó chính là đích đến cuối cùng của chúng tôi. Việc áp dụng các giải pháp kĩ thuật như quản lí nước tưới bằng cảm biến, luân canh cây trồng, quản lí rơm rạ và sử dụng phân bón hữu cơ không chỉ giúp giảm phát thải mà còn cải thiện sức khỏe đất, tăng khả năng lưu trữ carbon trong đất. Những hành động đó đều có thể được định lượng và chứng nhận thành tín chỉ carbon. Hiện nay, nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp carbon thấp trên thế giới rất lớn. Nếu chúng ta xây dựng được một hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) minh bạch, người nông dân ĐBSCL hoàn toàn có thể được hưởng lợi từ việc bán các tín chỉ carbon này, biến những nỗ lực bảo vệ môi trường thành nguồn thu nhập bền vững, đúng như tinh thần phát triển kinh tế tuần hoàn.

Văn Kim Khanh