Thủy sản Việt Nam xuất khẩu nhờ đâu mang về hàng chục tỉ USD và duy trì Top 3 toàn cầu?
Từ năm 2020 đến 2025, ngành thủy sản Việt Nam đã thay đổi vị thế hoàn toàn so với trước đó nhờ sự bứt phá về kim ngạch xuất khẩu và giá trị chế biến, bước vào vị thế một “ông lớn”.
Sự ghi nhận từ báo cáo của FAO: Việt Nam trong Top ba xuất khẩu thủy sản
Báo cáo “Thực trạng Khai thác và Nuôi trồng Thủy sản Thế giới” (SOFIA) của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) được phát hành gần đây đã cho thấy một sự phát triển khá ổn định của ngành thương mại thủy sản toàn cầu.
Theo đánh giá, trong giai đoạn từ 1976-2024, khoảng 50 năm, sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản gia tăng cùng nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn. Xuất khẩu thủy sản toàn cầu đạt mức tăng trưởng trung bình 6,8% mỗi năm, được thúc đẩy bởi sự phát triển của công nghệ bảo quản, vận chuyển, chế biến và logistics. Tuy nhiên, trong thập kỷ tới, tốc độ tăng trưởng này được dự báo sẽ chậm lại.
Cũng theo báo cáo của FAO, giá trị thương mại quốc tế của ngành thủy sản năm 2024 đạt 186 tỉ USD, với các loại sản phẩm từ cá, giáp xác, nhuyễn thể và các loại động vật thủy sinh chiếm hầu hết tổng giá trị giao dịch.
Hai khu vực tiếp tục giữ vị trí xuất khẩu thủy sản lớn nhất là châu Âu và châu Á, chiếm lần lượt 38% và 34% giá trị xuất khẩu toàn cầu. Tuy nhiên, về nhập khẩu, Liên minh châu Âu (EU) nhập khẩu 63,2 tỉ USD.

Các nước có kim ngạch xuất khẩu lớn gồm: Trung Quốc dẫn đầu với 20,1 tỉ USD; Na Uy đứng thứ hai 16 tỉ USD; Việt Nam xếp thứ ba với 10,5 tỉ USD; và Ecuador đứng thứ tư với 9,2 tỉ USD. Mỹ là quốc gia nhập khẩu thủy sản lớn nhất với 26,9 tỉ USD, theo sau là Trung Quốc, Nhật Bản.
Nhóm sản phẩm cá chiếm tới 68% giá trị thương mại thủy sản toàn cầu; tiếp đến là giáp xác với 22%. Trong nhóm sản phẩm cá, cá hồi tiếp tục dẫn dắt với giá trị thương mại quốc tế cao nhất, đạt khoảng 38,1 tỉ USD trong năm 2024; nhóm sản phẩm tôm đứng thứ hai với kim ngạch xuất khẩu chiếm 16% tổng giá trị thương mại, đạt 28,7 tỉ USD.
Báo cáo “Thực trạng Khai thác và Nuôi trồng Thủy sản Thế giới" (SOFIA) được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) phát hành định kỳ 2 năm một lần (vào các năm chẵn).
Báo cáo SOFIA 2026 được phát hành tại Hội nghị “Our Ocean” lần thứ 11 diễn ra ở Mombasa, Kenya. Đây chính là ấn bản mới nhất cung cấp các số liệu toàn diện của năm 2024, trong đó bao gồm con số 186 tỉ USD kim ngạch thương mại thủy sản toàn cầu).
Thủy sản xuất khẩu Việt Nam duy trì Top 3 từ năm 2020 đến nay
Trước năm 2020, cụ thể là năm 2019, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đứng vị trí thứ 4 thế giới về kim ngạch, sau Trung Quốc, Na Uy và Nga.
Thế nhưng từ năm 2020 trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã bứt tốp. Theo số liệu thống kê, trong 6 năm qua, xuất khẩu thủy sản Việt Nam có 2 nhịp tăng.
- Năm 2020: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 8,41 tỉ USD, bứt tốp vào Top 3 thế giới.
- Năm 2021: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam khoảng 8,9 tỉ USD bất chấp khó khăn và đứt gãy chuỗi cung ứng do đại dịch COVID-19, duy trì Top 3.
- Năm 2022: Sau COVID-19 nhu cầu toàn cầu hồi phục mạnh, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam lập kỷ lục lịch sử gần 11 tỉ USD, tiếp tục củng cố vững chắc vị trí trong Top 3 toàn cầu.
- Năm 2023: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 9 tỉ USD, toàn ngành chủ động điều chỉnh linh hoạt trong bối cảnh lạm phát toàn cầu làm giảm sức mua tại các thị trường lớn.
- Năm 2024: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam tăng lên mức khoảng 10,5 tỉ USD, ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ từ các mặt hàng chiến lược.
- Năm 2025: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt kỷ lục mới với 11,3 tỉ USD nhờ giá thủy sản thế giới tăng cao và việc mở rộng thành công các thị trường ngách.
Nhờ đâu liên tục duy trì Top 3?
Có thể nói, thủy sản xuất khẩu Việt Nam là một trong những ngành có tính chủ động cao, nhạy bén thông tin, tích lũy được nhiều kinh nghiệm ứng phó trước các biến động địa chính trị hay phòng vệ thương mại. Chính vì thế, ngành thủy sản xuất khẩu của Việt Nam cho dù liên tục gặp những rào cản về thuế chống bán phá giá tại nhiều thị trường nhưng vẫn duy trì được sự tăng trưởng. Tính từ năm 2020 đến nay, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam duy trì đều đặn mức bình quân 7% thị phần trên thị trường quốc tế.

Một trong những điểm tích cực đáng ghi nhận của thủy sản Việt Nam xuất khẩu chính là trình độ chế biến sâu. Thay vì xuất khẩu thô, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tập trung vào các mặt hàng giá trị gia tăng cao (sản phẩm ăn liền, tẩm ướp sẵn, đóng gói tiện lợi). Phân khúc này mang lại lợi nhuận cao và khó bị sao chép, thay thế bởi các đối thủ cạnh tranh có suất chi phí nuôi trồng rẻ như Ecuador hay Ấn Độ.
Cá tra, nhóm mặt hàng chiến lược đóng góp kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai của ngành, tiếp tục giữ vị thế gần như độc quyền trên thị trường toàn cầu. Cá tra, cá basa phi lê đông lạnh và cắt khúc đông lạnh của Việt Nam đã có mặt tại hàng trăm thị trường quốc tế. Tính chung, thủy sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong khi đó, mặt hàng tôm tiếp tục mang về giá trị xuất khẩu lớn nhất. Cho dù gặp nhiều cạnh tranh từ các đối thủ, nhưng tới nay, Việt Nam vẫn dẫn đầu ở phân khúc tôm cao cấp nhờ kiểm soát tốt chứng nhận quốc tế (ASC, BAP).
Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam được đánh giá có mức độ năng động và linh hoạt cao. Khi gặp khó khăn về chính sách và rào cản quốc tế, ngành đã nhanh chóng đề xuất các giải pháp với Chính phủ và cơ quan quản lý để cùng tham gia tháo gỡ, đưa ra các giải pháp vượt khó. Bản thân doanh nghiệp liên tục tham dự các hội chợ thủy sản quốc tế để quảng bá thương hiệu, sản phẩm; nhanh chóng tìm các giải pháp tuân thủ những rào cản kỹ thuật từ các thị trường Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc… để giữ vững thị trường xuất khẩu.
Cùng với đó, nhiều mặt hàng mới, như cá rô phi, hay các mặt hàng có giá trị xuất khẩu còn thấp, trở thành mặt hàng ngách được từng bước thử nghiệm mở rộng thị trường giúp gia tăng kim ngạch, thực hiện với kế hoạch bền bỉ nhằm linh hoạt đa dạng hóa thị trường, xây dựng thêm thị trường ngách và thị trường mới ngoài các thị trường lớn là Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc. Trong đó, việc Việt Nam tham gia các hiệp định lớn như EVFTA, CPTPP, RCEP đã được các doanh nghiệp xuất khẩu tận dụng tối đa, mang lại lợi thế cạnh tranh vượt trội về giá so với các đối thủ chưa có FTA nhờ vào việc được hưởng thuế suất bằng hoặc về 0%.