Kinh tế

Báo Nhật: Bán dẫn là động lực để Việt Nam trở thành nước thu nhập cao

Bùi Tú 18/08/2026 08:23

Ngành bán dẫn và điện tử đang được kì vọng trở thành động lực mới giúp Việt Nam tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Tháng 7/2026, Việt Nam chính thức được World Bank chuyển từ nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp lên nhóm thu nhập trung bình cao (upper-middle-income). Giờ là lúc phấn đấu trở thành nước thu nhập cao.

nước thu nhập cao
Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp bán dẫn. Ảnh: VGP

Từ tăng trưởng xuất khẩu đến cột mốc thu nhập trung bình cao

Theo số liệu World Bank, GNI bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ 4.490 USD năm 2024 lên 4.970 USD năm 2025, vượt ngưỡng 4.636 USD để bước vào nhóm thu nhập trung bình cao. Trong giai đoạn 2021-2025, GNI của Việt Nam tăng bình quân khoảng 10% mỗi năm, thuộc nhóm tốc độ tăng bền vững mạnh trong khu vực.

Theo Nikkei Asia (Nhật), đằng sau con số này là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong nhiều thập niên. Từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, Việt Nam từng bước trở thành một trung tâm sản xuất định hướng xuất khẩu, thu hút lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các hiệp định thương mại với nhiều thị trường lớn, cùng lợi thế về vị trí địa lí, lực lượng lao động và chi phí sản xuất, đã giúp Việt Nam thu hút các tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, thiết bị công nghệ và linh kiện. Tuy nhiên, việc bước vào nhóm thu nhập trung bình cao cũng đặt ra một bài toán mới.

Lợi thế về lao động giá rẻ từng là một trong những động lực chính giúp Việt Nam thu hút đầu tư. Nhưng khi thu nhập và tiền lương tăng lên, lợi thế này sẽ dần suy giảm. Nếu nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào những công đoạn sản xuất sử dụng nhiều lao động, Việt Nam có nguy cơ gặp phải giới hạn tăng trưởng khi chi phí sản xuất tăng nhưng năng suất và giá trị gia tăng không tăng tương ứng. Đó là lí do bán dẫn ngày càng được đặt ở vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam.

Sự bùng nổ đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) trên toàn cầu đang làm nhu cầu đối với chip, bộ nhớ, thiết bị điện tử và hạ tầng tính toán tăng mạnh. Xu hướng này mở ra cơ hội để Việt Nam chuyển từ một trung tâm sản xuất điện tử sang một mắt xích có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng bán dẫn.

Việt Nam hiện đã có sự hiện diện của nhiều tập đoàn quốc tế trong các công đoạn lắp ráp, đóng gói và kiểm thử chip. Đây là những công đoạn hậu kì của ngành bán dẫn, có tính chất sử dụng nhiều lao động hơn so với thiết kế hay chế tạo wafer.

“Mắt xích” bán dẫn đang mở rộng tại Việt Nam

Intel, Amkor Technology và Hana Micron đều đã có hoạt động liên quan đến đóng gói, lắp ráp hoặc kiểm thử bán dẫn tại Việt Nam. Sự hiện diện của các doanh nghiệp này giúp Việt Nam hình thành nền tảng ban đầu để tham gia sâu hơn vào ngành công nghiệp chip. Nhưng bước chuyển đáng chú ý đang diễn ra khi các dự án mới bắt đầu hướng tới những công đoạn có hàm lượng công nghệ cao hơn.

Tháng 6/2026, LG Innotek công bố kế hoạch xây dựng cơ sở sản xuất nền bán dẫn tại Hải Phòng. Đây sẽ là nhà máy sản xuất nền bán dẫn đầu tiên của LG Innotek tại Việt Nam, với dự án có tổng vốn khoảng 1 tỉ USD.

Samsung cũng đang tăng cường hiện diện trong lĩnh vực bán dẫn tại Việt Nam. Theo Reuters, tập đoàn Hàn Quốc có kế hoạch đầu tư khoảng 1,5 tỉ USD để xây dựng một nhà máy kiểm thử chip tại Thái Nguyên, dự kiến bắt đầu hoạt động vào tháng 11/2027. Đây có thể là nhà máy kiểm thử chất bán dẫn đầu tiên của Samsung tại Việt Nam.

Nhà máy dự kiến tập trung vào chip nhớ DRAM và NAND, trong lúc nhu cầu chip đang tăng mạnh do sự phát triển của các trung tâm dữ liệu phục vụ AI. Nếu triển khai theo kế hoạch, dự án sẽ mở rộng đáng kể vai trò của Việt Nam trong khâu hậu kì của chuỗi sản xuất bán dẫn.

Không chỉ có các tập đoàn nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới ngành này. Viettel và FPT là những cái tên đã thể hiện định hướng tham gia vào lĩnh vực bán dẫn, từ đó mở ra khả năng hình thành năng lực nội địa thay vì chỉ phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI.

Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo không còn là tập trung thu hút thêm nhà máy. Mục tiêu lớn hơn là thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa vào chi phí lao động thấp và tiến lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Trong ngành bán dẫn, khoảng cách giữa các công đoạn là rất lớn. Lắp ráp, đóng gói và kiểm thử có thể tạo ra số lượng việc làm đáng kể, nhưng thiết kế chip, phát triển công nghệ và những công đoạn đầu nguồn đòi hỏi hàm lượng tri thức, vốn và năng lực nghiên cứu cao hơn.

Việt Nam vì vậy đang đặt mục tiêu mở rộng từ các công đoạn hậu kì sang thiết kế và phát triển chip. Chính phủ cũng đặt mục tiêu đào tạo 50.000 nhân lực bán dẫn đến năm 2030, đồng thời nâng cấp hoạt động đào tạo tại các trường đại học, trong đó có Đại học Bách khoa Hà Nội.

Nguồn nhân lực sẽ quyết định liệu Việt Nam có thể tiến lên những nấc thang cao hơn hay không. Một nhà máy có thể được xây dựng trong vài năm, nhưng đội ngũ kỹ sư có khả năng thiết kế chip, phát triển quy trình sản xuất hoặc nghiên cứu vật liệu bán dẫn cần thời gian đào tạo lâu hơn nhiều. Vì vậy, cuộc cạnh tranh bán dẫn cũng đồng thời là cuộc cạnh tranh về giáo dục, nghiên cứu và khả năng thu hút nhân tài.

Muốn là nước thu nhập cao, cần rút kinh nghiệm với bài học từ Thái Lan và Indonesia

Nikkei Asia nhắc lại bài học trong ASEAN, Thái Lan và Indonesia bước vào nhóm các nền kinh tế thu nhập trung bình sớm hơn Việt Nam và nhiều nước ASEAN khác, nhưng sau đó gặp khó khăn trong việc tiến lên nấc thang tiếp theo.

Thái Lan là ví dụ điển hình. Nước này gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao từ năm 2011 nhưng chưa thể bứt phá thành nền kinh tế thu nhập cao. Sự chậm trễ trong phát triển các ngành công nghệ tiên tiến, cùng tốc độ già hóa dân số nhanh hơn nhiều quốc gia láng giềng, khiến tăng trưởng của Thái Lan giảm tốc và trở thành một trong những mức thấp nhất khu vực.

Theo một ước tính được The Nation của Thái Lan dẫn lại, nếu duy trì tốc độ tăng trưởng tương đương mức bình quân của một thập niên qua, Việt Nam có thể vượt Thái Lan về GNI bình quân đầu người vào năm 2037 và tiến vào nhóm quốc gia thu nhập cao vào khoảng năm 2040.

Indonesia, nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, cũng đang đối mặt với tốc độ tăng trưởng chậm lại. Dù có lực lượng lao động đông đảo, ngành sản xuất chưa phát triển tương xứng. Chính phủ Indonesia đã tìm cách thúc đẩy công nghiệp chế biến bằng việc hạn chế xuất khẩu quặng chưa qua chế biến, chẳng hạn nickel, nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực cũng là một điểm nghẽn khi nhiều lao động chỉ có trình độ học vấn đến trung học cơ sở hoặc thấp hơn.

Ngược lại, Malaysia cho thấy một hướng đi khác. Quốc gia này bước vào nhóm thu nhập trung bình cao từ năm 1996 và từng trải qua thời gian dài tăng trưởng chậm. Nhưng việc đặt cược mạnh hơn vào ngành bán dẫn đang giúp Malaysia lấy lại động lực.

Malaysia hiện thúc đẩy các công nghệ đóng gói chip tiên tiến, đồng thời phát triển hạ tầng để đưa hoạt động thiết kế và phát triển sản phẩm về trong nước. Xuất khẩu thiết bị điện và bán dẫn tăng mạnh đã góp phần thúc đẩy GDP của nước này tăng 6% trong quý II, đưa Malaysia vào quỹ đạo trở thành quốc gia thu nhập cao vào khoảng năm 2030.

Bài học từ Malaysia, cũng như những khó khăn của Thái Lan và Indonesia, cho thấy việc đạt nhóm thu nhập trung bình cao mới chỉ là một cột mốc. Thách thức thực sự nằm ở chặng đường sau đó.

Cột mốc thu nhập trung bình cao vì thế mới chỉ là điểm bắt đầu của một giai đoạn khó khăn hơn. Việt Nam cần tránh tình trạng tăng trưởng chậm lại khi tiền lương tăng nhưng năng suất và năng lực công nghệ không theo kịp. Điều này từng trở thành thách thức đối với nhiều nền kinh tế sau khi bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Bùi Tú