Quy định mới

Cần khung pháp lí tài sản mã hóa dựa trên bản chất và kiểm soát rủi ro

Bùi Tú 18/08/2026 11:12

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, bài toán với tài sản mã hóa hiện nay của Việt Nam là xây dựng cơ chế vừa mở không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa kiểm soát các rủi ro về lừa đảo, rửa tiền và đầu cơ thông qua cách tiếp cận dựa trên bản chất hoạt động và mức độ rủi ro.

Trao đổi riêng với Tạp chí Một Thế Giới, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam, Việt Nam hiện không còn ở trạng thái hoàn toàn thiếu hành lang pháp lí cho tài sản mã hóa. Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã tạo nền tảng pháp lí cho lĩnh vực này. Song song đó, Việt Nam đang triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa trong thời hạn 5 năm và bắt đầu tiếp nhận hồ sơ cấp phép từ tháng 1/2026.

tài sản mã hóa
Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp Công nghệ số vào giữa tháng 6/2025. Ảnh: VGP

Quản lí tài sản mã hóa theo bản chất, không chạy theo tên gọi công nghệ

Trong bức tranh đó, thách thức lớn hơn nằm ở việc thiết kế các nguyên tắc quản lí đủ chặt để hạn chế rủi ro nhưng không tạo ra rào cản khiến công nghệ và mô hình kinh doanh mới khó phát triển. “Nguyên tắc quan trọng nhất là quản lí theo bản chất hoạt động và mức độ rủi ro, chứ không chạy theo tên gọi của công nghệ”, ông Minh nhận định.

Theo chuyên gia trường Đại học RMIT, tài sản mã hóa có thể được thiết kế dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng điều quan trọng không nằm ở cách sản phẩm được gọi là gì mà ở chức năng kinh tế thực tế của nó. Nếu một sản phẩm có bản chất tương tự chứng khoán, hoạt động thanh toán hoặc huy động vốn, các yêu cầu quản lí cũng cần được thiết kế tương ứng.

Điều này đồng nghĩa với việc không nên áp dụng một bộ quy tắc giống nhau cho toàn bộ thị trường tài sản mã hóa. Những sản phẩm có mức độ rủi ro khác nhau cần chịu các yêu cầu khác nhau về công bố thông tin, bảo vệ khách hàng, phòng chống rửa tiền và quản trị rủi ro.

Cách tiếp cận này cũng giúp cơ quan quản lí tránh tình trạng phải liên tục thay đổi quy định chỉ vì công nghệ xuất hiện thêm những tên gọi hay mô hình mới. Thay vì cố gắng dự đoán từng loại tài sản mã hóa, trọng tâm nên đặt vào hoạt động kinh tế mà tài sản đó thực hiện và những rủi ro có thể phát sinh.

nhat-minh-rmit.jpg
TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam

Kiểm soát các “cửa ngõ” và dành không gian cho thử nghiệm

Một nguyên tắc khác được ông Minh nhấn mạnh là cần tập trung quản lí chặt những “cửa ngõ” kết nối tài sản mã hóa với nền kinh tế thực. Theo đó, các chủ thể như sàn giao dịch, đơn vị lưu kí, tổ chức phát hành và những điểm chuyển đổi giữa tiền pháp định với tài sản mã hóa cần được đặt ở vị trí trọng tâm trong hoạt động giám sát. “Đây cũng là hướng tiếp cận dựa trên rủi ro mà FATF đang thúc đẩy trên phạm vi toàn cầu”, ông Minh cho biết.

Việc kiểm soát các đầu mối này có ý nghĩa đặc biệt trong phòng chống rửa tiền, gian lận và các hành vi lợi dụng tài sản mã hóa cho mục đích bất hợp pháp. Thay vì dàn trải nguồn lực để kiểm soát mọi giao dịch hoặc mọi ứng dụng công nghệ, cơ quan quản lí có thể tập trung vào những điểm có khả năng tạo ra tác động lớn nhất đối với hệ thống tài chính và người dùng.

Tuy nhiên, kiểm soát rủi ro không đồng nghĩa với việc đóng cửa thị trường trước những mô hình mới. Theo ông Minh, Việt Nam vẫn cần duy trì không gian thử nghiệm để doanh nghiệp có thể phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới trong điều kiện được giám sát. “Cần có không gian thử nghiệm nhưng phải đi cùng giới hạn về quy mô, thời gian, đối tượng tham gia và cơ chế xử lí khi thử nghiệm thất bại”, ông nói.

Cách thiết kế này cho phép cơ quan quản lí quan sát tác động thực tế của một mô hình trước khi quyết định mở rộng hoặc điều chỉnh chính sách. Đồng thời, việc giới hạn quy mô và đối tượng tham gia giúp khoanh vùng thiệt hại nếu thử nghiệm phát sinh vấn đề.

Từ góc nhìn này, bài toán pháp lí đối với tài sản mã hóa không nên được đặt thành lựa chọn giữa đổi mới sáng tạo và an toàn. Một thị trường thiếu kiểm soát có thể làm suy giảm niềm tin, nhưng một thị trường bị quản lí quá chặt cũng có nguy cơ bỏ lỡ cơ hội phát triển công nghệ và thu hút nguồn lực.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, mục tiêu cuối cùng là xây dựng một khuôn khổ trong đó an toàn trở thành điều kiện để đổi mới phát triển bền vững: “Một khung pháp lí tốt phải biến sự an toàn và niềm tin thành nền tảng cho đổi mới”.

Bùi Tú