Cấp mã số vùng trồng sầu riêng: Chuyển sang quản lí số, hậu kiểm
Quy định rút ngắn thủ tục, đưa cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói lên môi trường số, tăng và hậu kiểm.
Từ tiền kiểm sang quản lí số
Sáng 20/8, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (KNQG) - Bộ Nông nghiệp & Môi trường (NN&MT) mở lớp tập huấn trực tuyến quy mô toàn quốc, hướng dẫn hệ thống khuyến nông, khuyến nông cộng đồng triển khai quy định về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, nhằm thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ và Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026 của Chính phủ tạo khung pháp lí mới trong quản lí mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, hướng tới kiểm soát chặt chất lượng nông sản, đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật và truy xuất nguồn gốc. Trong đó, mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được xác định là những mắt xích quan trọng để nông sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.

Phát biểu khai mạc buổi tập huấn trực tuyến, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm KNQG – Bộ NN&MT cho biết: “Theo Nghị định 38/2026/NĐ-CP, các vùng trồng và cơ sở đóng gói phải tuân thủ các yêu cầu về điều kiện kĩ thuật, kiểm dịch thực vật, an toàn vệ sinh thực phẩm và ghi chép nhật kí sản xuất. Cơ quan quản lí địa phương được tăng cường rà soát, giám sát và xử lí những trường hợp vi phạm như mượn mã số, sử dụng mã số sai mục đích”.
Điểm đáng chú ý là tư duy quản lí không còn dừng ở việc cấp thật nhiều mã số mà chuyển sang quản lí chất lượng, duy trì tính bền vững của mã số. Với sầu riêng, đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng bởi chỉ một vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói vi phạm cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành hàng.
Tiếp đó, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ đã tạo bước tiến mới khi quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đây cũng là nội dung được Trung tâm KNQG tổ chức tập huấn trực tuyến quy mô toàn quốc trong ngày 20/8, nhằm hướng dẫn hệ thống khuyến nông và khuyến nông cộng đồng triển khai quy định mới.
Người dân, hợp tác xã cũng có thể đề nghị
Một trong những thay đổi đáng chú ý là việc mở rộng đối tượng có thể đề nghị cấp mã số. Theo cơ chế mới, việc đề nghị cấp mã số vùng trồng không chỉ gắn với doanh nghiệp xuất khẩu mà có thể do tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoặc nhóm hộ gia đình có vùng sản xuất đề nghị.
Điều này đặc biệt phù hợp với thực tế sản xuất sầu riêng ở các địa phương. Nhiều vùng nguyên liệu được hình thành từ các hộ dân, tổ hợp tác, hợp tác xã rồi liên kết với doanh nghiệp thu mua, xuất khẩu. Khi chủ thể sản xuất có thể trực tiếp thực hiện thủ tục, trách nhiệm của người sản xuất đối với mã số cũng được nâng lên.
Tuy nhiên, có mã số không đồng nghĩa với việc vùng trồng được phép sản xuất theo bất kì cách nào. Chủ thể đăng kí phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin kê khai, điều kiện sản xuất và việc duy trì các yêu cầu liên quan đến mã số.
Đối với cơ sở đóng gói, tổ chức hoặc cá nhân sở hữu cơ sở đáp ứng các yêu cầu kĩ thuật có thể đề nghị cấp mã số. Cơ sở phải bảo đảm điều kiện về vệ sinh, kiểm soát sinh vật gây hại, truy xuất nguồn gốc và các yêu cầu mà thị trường nhập khẩu đặt ra.
Với sầu riêng xuất khẩu, đây là khâu đặc biệt quan trọng. Trái sầu riêng đưa vào cơ sở đóng gói phải xác định được nguồn gốc. Khi thị trường nhập khẩu yêu cầu sản phẩm phải đến từ vùng trồng được cấp mã số, cơ sở đóng gói phải kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu, tránh tình trạng đưa sản phẩm từ vùng chưa được cấp mã số vào cùng chuỗi hàng xuất khẩu.
Cấp mã số qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó giám đốc Trung tâm thông tin, lưu trữ và thư viện - Cục Chuyển đổi số, một thay đổi lớn trong quy trình mới là đẩy mạnh thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử. Việc này phù hợp với định hướng cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong quản lí nông nghiệp.
Theo cơ chế mới, hồ sơ được thực hiện thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và chuyển đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói. Đây là thay đổi đáng chú ý trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai.
Thay vì người dân, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp phải đi qua nhiều tầng nấc trung gian, quy trình được đưa về gần cơ sở hơn. UBND cấp xã trở thành đầu mối tiếp nhận và xử lí hồ sơ theo thẩm quyền.
Đối với trường hợp thị trường nhập khẩu không yêu cầu nước xuất khẩu phải thực hiện quy trình phê duyệt mã số, thủ tục được đơn giản hóa đáng kể. Sau khi tiếp nhận thông tin, cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra theo quy định và thông báo cấp mã số.
Đối với thị trường có yêu cầu kiểm tra, phê duyệt mã số từ phía nước nhập khẩu, quy trình vẫn có bước chuyển thông tin qua cơ quan chuyên môn và Bộ Nông nghiệp và Môi trường để thực hiện thủ tục với cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu.
Như vậy, cần phân biệt giữa cấp mã số của Việt Nam và phê duyệt mã số của nước nhập khẩu. Đây là hai khâu khác nhau và có thể cùng xuất hiện trong quá trình đưa sầu riêng vào những thị trường có yêu cầu nghiêm ngặt.
Tăng trách nhiệm, siết hậu kiểm
.jpg)
Cùng với việc đơn giản hóa thủ tục, quy định mới không có nghĩa là nới lỏng quản lí. Ngược lại, trọng tâm được chuyển mạnh sang hậu kiểm.
Chủ thể đăng kí phải tự chịu trách nhiệm về thông tin kê khai và điều kiện của vùng trồng, cơ sở đóng gói. Cơ quan quản lí tăng cường kiểm tra, giám sát việc duy trì điều kiện sau khi mã số được cấp.
Cách làm này có ý nghĩa với ngành sầu riêng bởi mã số vùng trồng không phải là một “tấm giấy thông hành” được cấp một lần rồi sử dụng mãi. Vùng trồng phải duy trì quy trình sản xuất, ghi chép, kiểm soát dịch hại, bảo đảm an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Tương tự, cơ sở đóng gói phải duy trì điều kiện kĩ thuật trong suốt quá trình hoạt động. Nếu phát hiện vi phạm, cơ quan quản lí có thể áp dụng biện pháp xử lí theo quy định.
Nghị định 38/2026/NĐ-CP đã đặt vấn đề tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lí các hành vi như mượn mã số hoặc sử dụng mã số sai mục đích. Đây là một trong những nội dung quan trọng nhằm chấn chỉnh vùng nguyên liệu và bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Với sầu riêng, yêu cầu này càng cấp thiết. Nếu một mã số được sử dụng cho sản phẩm không đúng nguồn gốc, việc truy xuất sẽ bị phá vỡ. Khi đó, không chỉ lô hàng vi phạm bị ảnh hưởng mà uy tín của vùng sản xuất, doanh nghiệp và thậm chí ngành hàng có thể bị tác động.
Khuyến nông trở thành cầu nối đến vùng trồng
Việc Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức lớp tập huấn này cho thấy vai trò của hệ thống khuyến nông đang được đặt gần hơn với nhiệm vụ quản lí mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.

Đây là hướng tiếp cận đáng chú ý bởi cán bộ khuyến nông là lực lượng gần nông dân, hợp tác xã và vùng sản xuất. Khi thủ tục được số hóa, người sản xuất vẫn cần được hướng dẫn cách chuẩn bị thông tin, kê khai, cập nhật hồ sơ, duy trì nhật kí sản xuất và thực hiện truy xuất nguồn gốc.
Đối với các vùng sầu riêng tập trung, khuyến nông cộng đồng có thể trở thành cầu nối giữa chính quyền cấp xã với nông dân và hợp tác xã. Không chỉ hướng dẫn kĩ thuật canh tác, lực lượng này còn có thể hỗ trợ người dân hiểu đúng về trách nhiệm khi được cấp mã số.
Sầu riêng phải đi bằng chuỗi minh bạch
Ông Hoàng Tuyển Phương, Trưởng Phòng Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm KNQG cho rằng: “Nhìn tổng thể, Nghị định 38/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 36/2026/NQ-CP đang tạo ra một thay đổi quan trọng trong quản lí nông sản xuất khẩu: từ tư duy “xin cấp mã số” sang quản lí cả một chuỗi sản xuất, đóng gói và truy xuất”.
Đối với sầu riêng, thay đổi này đặt ra yêu cầu người trồng phải tổ chức lại sản xuất, doanh nghiệp phải kiểm soát tốt hơn vùng nguyên liệu, cơ sở đóng gói phải bảo đảm điều kiện kĩ thuật, còn cơ quan quản lí phải tăng cường hậu kiểm.
Việc đưa thủ tục lên môi trường số sẽ giúp giảm thời gian, giảm khâu trung gian và tạo thuận lợi hơn cho người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp. Nhưng hiệu quả cuối cùng không nằm ở việc cấp được bao nhiêu mã số mà ở khả năng duy trì chất lượng của từng mã số.
Khi mỗi vùng trồng được quản lí đúng, mỗi cơ sở đóng gói kiểm soát được nguồn nguyên liệu và mỗi lô sầu riêng đều có thể truy xuất đến nơi sản xuất, mã số vùng trồng mới thực sự trở thành công cụ bảo vệ thương hiệu.
Đối với sầu riêng Việt Nam, đây cũng là điều kiện để chuyển từ xuất khẩu theo cơ hội thị trường sang xuất khẩu theo chuẩn mực, dữ liệu và trách nhiệm. Khi đó, mã số vùng trồng không chỉ là một thủ tục hành chính mà trở thành “hộ chiếu” của vùng nguyên liệu, gắn với chất lượng và uy tín của trái sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế.