Cuộc đời nhà khoa học

GS. Tôn Thất Tùng: Phía sau áo Blouse là một cõi nhân thế

Nam Phong 23/08/2026 09:56

Đằng sau phương pháp mổ gan lừng lẫy thế giới và ánh hào quang của một tượng đài y học là một Tôn Thất Tùng rất khác: cô độc, dằn vặt và tràn đầy lòng trắc ẩn.

Giáo sư Tôn Thất Tùng

Trên bản đồ Y học thế giới, Giáo sư Tôn Thất Tùng (1912 – 1982) là một tượng đài kiệt xuất. Người ta nhớ đến ông như một thiên tài phẫu thuật, tác giả của phương pháp "mổ gan khô" (cắt gan có kế hoạch) đã cách mạng hóa nền ngoại khoa hiện đại, một Viện sĩ Viện Hàn lâm Phẫu thuật Pháp, người đặt nền móng cho Y học Việt Nam vươn ra quốc tế. Nhưng khi một tên tuổi trở thành huyền thoại, những lớp bụi thời gian và sự tôn vinh đôi khi vô tình làm mờ đi phần sống động, chân thực nhất: Tính con người.

Tạp chí Một Thế Giới trân trọng giới thiệu loạt bài: "GS. Tôn Thất Tùng: Phía sau áo Blouse là một cõi nhân thế".

Với phương châm "Đằng sau những vĩ đại là nhân thế", loạt bài không lặp lại những lối mòn ca ngợi danh hiệu hay thống kê thành tựu. Loạt bài đi sâu để chạm vào cõi nội tâm của một danh y: những dằn vặt trong tăm tối nhà xác thời trẻ, cơn giận bảo vệ sự thật khoa học trước áp lực quốc tế, bóng cả gia phong nghiêm cẩn mà ấm áp, và những sinh mệnh nặng trĩu trên đôi bàn tay phẫu thuật thiên tài.

KÌ 1: LẬT ĐỔ BỨC TƯỜNG ĐỘC QUYỀN Y KHOA

Lịch sử y học Việt Nam thường ghi nhớ Giáo sư Tôn Thất Tùng ở đỉnh cao danh vọng, nhưng hành trình khoa học của ông thực chất bắt đầu từ một tuổi trẻ đầy trăn trở, gai góc và bất khuất. Từ cậu học trò xứ Huế mang gánh nặng gia phong sa sút, đến chàng “sinh viên bướng bỉnh" bị giới chức y tế Pháp kiêng nể, Tôn Thất Tùng đã bước vào nhà xác Bệnh viện Phủ Doãn bằng một bản năng tự tôn dân tộc sâu sắc. Nhát dao phẫu tích đầu tiên của ông không chỉ khai phá ra một vùng cấm y học mà còn xé tan sự độc quyền tri thức thực dân.

Dòng dõi hoàng tộc sa sút và lựa chọn con đường y nghiệp

Giáo sư Tôn Thất Tùng sinh ngày 10/5/1912 tại Thanh Hóa, nhưng gốc gác lại thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn xứ Huế - hậu duệ đời thứ sáu của Chúa Nguyễn Phúc Khoát. Cha ông là cụ Tôn Thất Niêm, Tổng đốc Thanh Hóa. Tuy nhiên, tấn kịch cuộc đời đã sớm dội xuống đầu cậu bé Tùng khi cha ông đột ngột qua đời lúc ông mới chưa đầy ba tháng tuổi.

Mẹ ông, bà Hồng Thị Mỹ Lệ, dắt díu đàn con thơ trở lại Huế, sống trong một ngôi nhà rường có thửa vườn rộng bên bờ sông Hương, gần cầu Bạch Hổ, nhìn sang cồn Dã Viên. Dù mang danh nghĩa hoàng tộc "tôn thất" danh giá, gia cảnh lại rơi vào cảnh thiếu hụt, túng thiếu. Tuổi thơ của Tôn Thất Tùng trôi qua trong gánh nặng tự trọng của một dòng tộc sa sút. Ông chứng kiến cảnh quan lại một mặt ưỡn ngực hách dịch với nhân dân, mặt khác lại luồn cúi, sợ hãi trước giới chức thực dân Pháp. Cậu thiếu niên ấy đã quyết tâm mãnh liệt: Không bao giờ bước vào con đường "học để làm quan", mà phải tìm một nghề tự do để sống kiêu hãnh và không phải cúi đầu.

Năm 1921, khi mới 9 tuổi, Tôn Thất Tùng ra Hà Nội học tập. Ông may mắn được ở nhờ tại nhà bác sĩ Hồ Đắc Di tại phố Hàng Bông - nhà phẫu thuật người bản địa hiếm hoi thời bấy giờ. Thời gian học tại Trường Bưởi (Trường Trung học Bảo hộ, nay là THPT Chu Văn An), cậu học trò Tôn Thất Tùng đã sớm bộc lộ một tâm hồn nhạy cảm nhưng cực kỳ gai góc. Trong cuốn hồi kí của mình, ông từng cay đắng ghi lại những kí ức tuổi thơ khi sải bước trên phố phường Hà Nội thời thuộc địa:

Mỗi lần ra đường là một lần tức giận. Đường đi lại đều phải nhường cho đám Tây đầm thực dân... Chúng nói chuyện với nhau ngay trước mặt tôi, chê cười những tập quán của dân mình, coi tôi như một kẻ đã tách khỏi dân tộc mình rồi! Có lúc tôi cáu tiết, nổi khùng lên với chúng thì chúng quắc mắt nhìn tôi, cười khẩy: 'Anh quên là người Pháp đã chiếm thành Nam Định và thành Hà Nội chỉ với vài ba chục người lính thôi ư?

Trích Hồi kí "Đường vào khoa học của tôi", GS. Tôn Thất Tùng, NXB Y học / NXB Kim Đồng

Chính những vết thương lòng thời thiếu thời ấy đã tôi luyện nên ở Tôn Thất Tùng một cá tính đặc biệt: kiêu hãnh, thẳng thắn và một lòng tự tôn dân tộc dữ dội. Năm 1935, ông đỗ vào Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương (École de Médecine et de Pharmacie de l'Indochine), mang theo khát vọng dùng tri thức để đối thoại bình đẳng với người Pháp.

Buổi chiều lịch sử ở nhà xác Phủ Doãn và 200 bộ gan

Năm 1935, nền y học thế giới vẫn coi gan là một "vùng cấm" của ngoại khoa. Do chưa hiểu rõ cấu trúc mạch máu bên trong, các phẫu thuật viên Pháp khi mổ gan thường "cắt mù", dẫn đến việc bệnh nhân tử vong vì mất máu cấp ngay trên bàn mổ. Không chấp nhận sự bế tắc này, chàng sinh viên Tôn Thất Tùng năm thứ ba đã tự biến nhà xác Bệnh viện Phủ Doãn thành phòng thí nghiệm của riêng mình.

Ảnh màn hình 2026-08-22 lúc 23.34.20
Bệnh viện Indigène du Protectorat (nay là Bệnh viện Việt Đức). Ảnh tư liệu

Căn nhà xác thời đó không có quạt máy, chẳng có hệ thống làm lạnh. Mùa hè Hà Nội nóng như đổ lửa, không khí quánh đặc mùi hóa chất formol xộc thẳng vào mũi hòa lẫn mùi tử thi đang phân hủy. Những thi thể nằm trên bàn đá phần lớn là người nghèo vô danh tử vong vì bệnh tật hay tai nạn. Đứng trước những sinh mệnh đã mất, Tôn Thất Tùng vượt qua nỗi sợ hãi bản năng bằng một sự tập trung cao độ.

Một buổi chiều mùa đông năm 1935 u ám và giá lạnh, trong khi phẫu tích một tử thi, Tôn Thất Tùng bất ngờ phát hiện một lá gan nhồi nhét đầy giun đũa - tai họa phổ biến của người nghèo thời đó. Bằng sự nhạy bén thiên tài, ông nhận ra giun chui đến đâu đã làm đứt gãy mô gan và lộ ra các đường mật, tĩnh mạch đến đó. Ông nảy ra một sáng kiến độc đáo: thay vì dùng dao cắt đứt mô gan làm chảy máu không hồi kết, ông dùng một con dao nạo nhỏ (curette) và ngón tay khéo léo bóp nhẹ cho vỡ mô gan, rồi đưa qua bồn nước rửa sạch. Chỉ trong 15 phút, toàn bộ hệ thống đường mật và mạch máu chằng chịt bên trong lá gan đã hiện ra nguyên vẹn trước mắt ông.

giáo sư Tôn Thất Tùng.jpg

Tôi đã phẫu tích hơn 200 lá gan người chết trong nhà xác Bệnh viện Phủ Doãn. Mùi formol quánh đặc hòa lẫn mùi tử thi giữa những ngày hè Hà Nội oi nồng. Trong căn phòng tăm tối ấy, tôi dùng một con dao nạo nhỏ và dòng nước chảy để bóc tách từng thùy gan. Chính giun chui ống mật – một tai họa của người nghèo thời đó – đã mở đường cho tôi nhìn thấy cấu trúc đường mật và mạch máu mà các sách giải phẫu phương Tây chưa từng mô tả.

Trích Hồi ký Tôn Thất Tùng

Suốt 4 năm ròng rã (1935 – 1939), Tôn Thất Tùng đã kiên trì thực hiện công việc phẫu tích rợn người trên 200 bộ gan. Ông tự tay đo đạc, ghi chép và vẽ lại hàng trăm bản sơ đồ phẫu tích giải phẫu tỉ mỉ. Đó là 200 cuộc đối thoại âm thầm giữa một trí thức trẻ Việt Nam và bóng tối của cái chết, nơi nhát dao nạo nhỏ bé đã chuẩn bị cho một cuộc cách mạng ngoại khoa làm rung chuyển thế giới.

Cuộc đấu tranh xé bỏ độc quyền Y khoa năm 1938

Bên cạnh mặt trận khoa học trong nhà xác, Tôn Thất Tùng còn phải đương đầu với bức tường phân biệt chủng tộc nghiệt ngã của chế độ thuộc địa.

Tôn Thất Tùng mổ gan
Giáo sư Tôn Thất Tùng (giữa) cùng các bạn tại phòng mổ xác, năm 1938. Ảnh chụp lại tư liệu tại MEDDOM

Thời bấy giờ, chính quyền Pháp quy định kỳ thi "Bác sĩ Nội trú" (Interne des Hôpitaux) – nấc thang duy nhất để một bác sĩ được quyền mổ chính tại bệnh viện – chỉ dành riêng cho sinh viên có quốc tịch Pháp. Sinh viên Việt Nam dù giỏi đến đâu cũng chỉ được đào tạo thành "y sĩ bản xứ", làm công việc phụ trợ, thay băng, rửa vết thương. Giới chức y tế Pháp cố tình dựng lên rào cản này để giữ vững thế độc tôn tri thức.

Sự bất công ấy chạm vào lòng tự tôn dân tộc sâu sắc của Tôn Thất Tùng. Không chịu khoanh tay nhẫn nhục, ông cùng GS. Hồ Đắc Di và các sinh viên Việt Nam xuất sắc đã đứng lên đấu tranh trực diện. Tôn Thất Tùng đã mang chính những bản vẽ giải phẫu gan kinh ngạc mà ông thực hiện trong nhà xác ra làm bằng chứng, thẳng thắn đối thoại với Ban Giám hiệu Trường Y và Toàn quyền Đông Dương:

Tại sao người Việt Nam chỉ được làm trợ lí phụ mổ trên chính quê hương mình? Khoa học không có biên giới và tri thức y khoa không phải là đặc quyền của người Pháp. Chúng tôi thi Bác sĩ Nội trú không phải để xin một sự ưu đãi, mà để khẳng định người Việt Nam hoàn toàn đủ năng lực làm chủ những kỹ thuật ngoại khoa phức tạp nhất.

GS. Tôn Thất Tùng

Trước lí lẽ đập tan mọi luận điệu vô lí và thành quả khoa học vượt trội của Tôn Thất Tùng, Hiệu trưởng Galliard và Toàn quyền Đông Dương buộc phải nhượng bộ. Năm 1938, chính quyền Pháp phải sửa đổi quy chế, mở cửa kỳ thi Nội trú cho người bản xứ.

Trong kì thi Bác sĩ Nội trú lịch sử năm 1938, Tôn Thất Tùng đã đè bẹp nhiều thí sinh Pháp để đỗ thủ khoa (Đệ nhất Nội trú - Interne des Hôpitaux de Hà Nội). Chiến thắng của chàng thanh niên 26 tuổi không chỉ là mốc nấc cá nhân, mà là nhát dao đâm thấu vào bức tường độc quyền y khoa thực dân, mở đường cho hàng loạt thế hệ bác sĩ Việt Nam bước lên đài danh vọng.

Luận văn chấn động Paris và di sản của "mổ gan khô"

Năm 1939, Tôn Thất Tùng bảo vệ thành công xuất sắc luận văn Bác sĩ Y khoa với đề tài "Cách phân chia các mạch máu trong gan" (La vascularisation parenchymateuse du foie).

20260801_100049(1).jpg
4 cuốn sổ ghi chép về gan của GS. Tôn Thất Tùng được gia đình tặng lại MEDDOM.

Dựa trên 200 bộ gan phẫu tích, bản luận văn đã đánh sập cuốn sách giải phẫu kinh điển của Testut (Pháp) vốn ngự trị hàng thế kỷ. Tôn Thất Tùng chứng minh rằng: Mạch máu và đường mật trong gan phân bố theo những quy luật phân thùy rất nghiêm ngặt. Bằng nguyên lý "bóp vỡ mô gan" để kẹp thắt mạch máu trước khi cắt, phẫu thuật viên có thể làm chủ hoàn toàn việc cầm máu.

Phẫu thuật viên không được cắt mù vào mô gan rồi trông chờ vào sự may rủi của gạc cầm máu. Gan không phải là một khối thịt đặc ngẫu nhiên; nó có cấu trúc phân thùy mạch máu rõ ràng. Chỉ cần làm vỡ mô gan bằng ngón tay hoặc cán dao phẫu tích để thắt các mạch máu trước khi cắt, chúng ta sẽ biến vùng cấm của ngoại khoa thành một vùng phẫu thuật an toàn.

Trích Luận văn Bác sĩ Y khoa, Tôn Thất Tùng - 1939

Luận văn của ông lập tức gây chấn động. Đại học Y Paris đã quyết định trao tặng Huy chương Bạc cho công trình xuất sắc này vào năm 1940. Ngay trong năm 1939, GS. Mayer-May (phẫu thuật viên Pháp gốc Do Thái) cùng Tôn Thất Tùng đã áp dụng nguyên lý này để mổ thành công ca cắt thùy gan trái đầu tiên trên thế giới tại Hà Nội.

20260801_100441-1-.jpg
Bài của GS. Tôn Thất Tùng giới thiệu về phẫu thuật cắt gan (Báo ảnh Việt Nam, số 5 (56), 1962). Ảnh chụp lại tư liệu tại MEDDOM

Mặc dù khi bản báo cáo gửi về Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris, nó từng bị một số Giáo sư bảo thủ như Funck-Brentano công kích vì "quá mới lạ", nhưng lịch sử đã trả lại sự công bằng. Đến năm 1961, Tôn Thất Tùng nâng cấp phát minh này thành "Phương pháp cắt gan có kế hoạch" (mổ gan khô). Ông rút ngắn thời gian mổ gan từ vài giờ xuống chỉ còn 4 đến 8 phút, cứu sống hàng vạn người và nhận Huy chương Lannelongue - danh hiệu 5 năm mới trao một lần cho phẫu thuật viên xuất sắc nhất thế giới (1977).

Nhìn lại tuổi trẻ của Tôn Thất Tùng, nhát dao phẫu tích trong căn nhà xác tăm tối Phủ Doãn năm 23 tuổi không đơn thuần là một thao tác y học. Đó là sự trỗi dậy của một cá tính gai góc, một trí tuệ bất khuất trước định kiến, và là phát hoa đầu tiên của một cõi nhân thế tràn đầy lòng tự tôn dân tộc phía sau chiếc áo blouse trắng.

Nam Phong