Nhịp đập công nghệ

Quản lí dịch hại trên trái cây xuất khẩu, việc khó nhưng phải làm

Văn Kim Khanh 27/08/2026 12:22

Kiểm soát dịch hại từ đồng ruộng đến sau thu hoạch là yêu cầu để trái cây ĐBSCL đáp ứng đúng chuẩn xuất khẩu.

ĐBSCL đang đứng trước yêu cầu mới: trái cây không chỉ cần năng suất, mẫu mã đẹp mà phải an toàn, truy xuất được nguồn gốc và kiểm soát chặt dư lượng.

ĐBSCL đóng góp hơn 50% sản lượng lúa và 70% sản lượng trái cây xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu, dịch bệnh gia tăng cùng yêu cầu của thị trường quốc tế về chất lượng, an toàn thực phẩm và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đang tạo sức ép lớn. Tích hợp quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) với công nghệ sau thu hoạch được xem là chìa khóa để nông sản đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu và nâng cao giá trị.

Thách thức từ vựa trái cây lớn nhất nước

Với trái cây xuất khẩu, dịch hại là bài toán khó bởi mỗi loại cây, mỗi vùng sản xuất và từng giai đoạn sinh trưởng có những đối tượng gây hại khác nhau.

Kinh nghiệm từ sản xuất lúa cho thấy thuốc bảo vệ thực vật chỉ nên sử dụng khi thật sự cần thiết, dựa trên nhận diện đúng sinh vật gây hại, theo dõi mật số và xác định ngưỡng phòng trừ.

TS. Trần Thanh Tùng, Giám đốc Trung tâm Kiểm định và Khảo nghiệm BVTV phía Nam, nhấn mạnh nguyên tắc “đúng thuốc, đúng liều, đúng thời điểm, đúng cách”. Theo ông, không có một lượng thuốc cố định cho mọi ruộng; liều lượng phụ thuộc loại thuốc, hoạt chất, đối tượng gây hại, giai đoạn sinh trưởng và điều kiện cụ thể. Người sản xuất phải tuân thủ nhãn thuốc, sử dụng đúng cây trồng, đúng đối tượng, đúng liều lượng và thời gian cách li.

Những nguyên tắc này có ý nghĩa trực tiếp đối với vùng cây ăn trái xuất khẩu. Quản lí dịch hại phải bắt đầu từ giống phù hợp, vệ sinh vườn, dinh dưỡng cân đối, quản lí nước, theo dõi sâu bệnh, bảo vệ thiên địch, sử dụng biện pháp sinh học và chỉ dùng thuốc hóa học khi cần thiết. Mục tiêu không phải tuyệt đối không dùng thuốc, mà là giảm phụ thuộc vào hóa chất và kiểm soát việc sử dụng trong giới hạn an toàn.

IPM cần đi vào vùng nguyên liệu

Tại hội thảo khoa học ngày 21/8 về "Giải pháp tích hợp quản lí dịch hại và công nghệ sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu", GS.TS Lý Nguyên Bình, Phó viện trưởng Viện Công nghệ sinh học & Thực Phẩm - Đại học Cần Thơ cho rằng: “Hội thảo đã tập trung vào các mô hình quản lí dịch hại bền vững, giảm sử dụng hóa chất, đồng thời giới thiệu giải pháp sau thu hoạch như xử lí nhiệt, màng bao sinh học và ứng dụng chất kháng sinh tự nhiên”.

sau thu hoach 8
Thu hoạch sầu riêng ở ĐBSCL. Ảnh: T.L

Quản lí dịch hại không thể tách rời quản lí chất lượng. Trái cây xuất khẩu phải được kiểm soát từ vườn, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến chế biến. Doanh nghiệp xuất khẩu chia sẻ rằng thị trường châu Âu và Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và chất lượng cảm quan.

IPM cần được triển khai ở quy mô vùng nguyên liệu thay vì chỉ dừng ở từng hộ. Hợp tác xã có thể tổ chức theo dõi đồng ruộng, thống nhất quy trình phòng trừ, ghi chép nhật kí và hướng dẫn nông dân sử dụng vật tư đúng quy định. Doanh nghiệp liên kết cần đưa yêu cầu về dịch hại, thuốc bảo vệ thực vật và thời gian cách li vào quy trình sản xuất, đồng thời kiểm tra việc thực hiện.

Khi sản xuất được tổ chức theo vùng, truy xuất nguồn gốc cũng thuận lợi hơn. Nhật kí sử dụng thuốc phải trở thành dữ liệu của quá trình sản xuất. Mỗi lần xử lí dịch hại cần có thông tin về thời điểm, sản phẩm, liều lượng, diện tích và người thực hiện.

BVTV 5
Chế biến thanh long xuất khẩu. Ảnh: Internet

Công nghệ mở đường kiểm soát

Quản lí dịch hại trên cây ăn trái đang có thêm công cụ từ chuyển đổi số và công nghệ chính xác. Theo TS. Trần Thanh Tùng, máy bay không người lái, cảm biến, bản đồ đồng ruộng và các nền tảng số có thể hỗ trợ xác định khu vực cần xử lí, hạn chế phun thuốc tràn lan.

Tuy nhiên, công nghệ không thể thay thế hoàn toàn con người. Người sản xuất vẫn phải nhận diện đúng dịch hại, hiểu đặc điểm sinh học của đối tượng và tuân thủ quy trình kĩ thuật.

Ở khâu sau thu hoạch, xử lí nhiệt, màng bao sinh học và các chất có nguồn gốc tự nhiên có thể góp phần kiểm soát tác nhân gây hư hỏng, kéo dài thời gian bảo quản và duy trì chất lượng. Khi quản lí dịch hại trước thu hoạch được nối với công nghệ sau thu hoạch, chuỗi giá trị sẽ được kiểm soát liên tục.

sau rienmg xk 1
Kiểm soát dư lượng thuốc BVTV còn tuỳ vào quy định của từng nước. Ảnh: T.L

Việc khó nhưng phải làm

Muốn trái cây ĐBSCL đi xa hơn trên thị trường quốc tế, quản lí dịch hại phải là trách nhiệm chung của nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lí. Không thể chỉ yêu cầu nông dân giảm thuốc nếu thiếu hướng dẫn kĩ thuật, giải pháp thay thế và cơ chế liên kết đầu ra.

Cơ quan chuyên môn cần thường xuyên tập huấn, cập nhật danh mục thuốc được phép sử dụng, hướng dẫn kĩ thuật và hỗ trợ giám sát vùng sản xuất. Viện, trường cần tiếp tục nghiên cứu chế phẩm sinh học, giải pháp IPM, công nghệ bảo quản và phương pháp kiểm soát dư lượng. Doanh nghiệp phải đồng hành với vùng nguyên liệu, còn nông dân cần thay đổi thói quen sản xuất theo kinh nghiệm sang quản lí dựa trên dữ liệu và quy trình.

PGS.TS Lê Văn Vàng, Hiệu trưởng Trường Nông Nghiệp - Đại học Cần Thơ cho rằng: "Quản lí dịch hại trên trái cây xuất khẩu chắc chắn là việc khó. Dịch bệnh biến động, thời tiết thay đổi, tiêu chuẩn thị trường ngày càng cao, trong khi thói quen sản xuất cần thời gian để chuyển đổi. Nhưng đây là việc phải làm nếu ĐBSCL muốn nâng giá trị trái cây thay vì chỉ tăng sản lượng".

Khi dịch hại được quản lí đúng, hóa chất được sử dụng hợp lí, dư lượng được kiểm soát, nguồn gốc được minh bạch và công nghệ sau thu hoạch được kết nối, trái cây không chỉ giữ được chất lượng mà còn tăng sức cạnh tranh. Đó là con đường từ một vùng sản xuất lớn trở thành vùng nguyên liệu xuất khẩu có trách nhiệm, an toàn và bền vững.

Văn Kim Khanh