Hỏi - Đáp

TS. Trần Đình Lý: Đừng để ngành chiến lược biến mất vì khó tuyển sinh

Hoàng Bắc 27/08/2026 16:29

Nghị định 334/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 20/8/2026, quy định về tự chủ hoạt động, tổ chức, nhân sự và tài chính của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Các trường được chủ động hơn trong xây dựng chương trình, tuyển sinh, cấp văn bằng và hợp tác quốc tế. Nghị định cũng quy định cơ chế tự chủ tài chính, quản lí tài sản công và chính sách hỗ trợ người học ở một số ngành đặc thù.

Đáng chú ý, chương trình đào tạo tiến sĩ toàn thời gian yêu cầu nghiên cứu sinh dành toàn bộ thời gian cho học tập, nghiên cứu và được hưởng chính sách học bổng, hỗ trợ kinh phí.

TS. Trần Đình Lý - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm TP.HCM. Ảnh: Nhân vật cung cấp
TS. Trần Đình Lý - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm TP.HCM. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Liên quan đến những quy định mới này, phóng viên Một Thế Giới đã trao đổi với TS. Trần Đình Lý - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM.

Tự chủ đại học phải đi cùng trách nhiệm giải trình

- Thưa TS. Trần Đình Lý, ông đánh giá Nghị định 334/2026/NĐ-CP như thế nào dưới góc độ quản lý và đào tạo?

- TS. Trần Đình Lý: Theo tôi, Nghị định 334/2026/NĐ-CP thể hiện một bước chuyển khá rõ trong tư duy quản trị giáo dục đại học. Đó là tăng quyền tự chủ nhưng đồng thời tăng trách nhiệm giải trình; Nhà nước chuyển mạnh hơn từ quản lý đầu vào sang đặt hàng, hỗ trợ và đánh giá dựa trên chất lượng, hiệu quả và nhu cầu phát triển của đất nước.

Ban tổ chức trao Giải Ba cho đội Robocon Trường Đại học Lạc Hồng (TP. Đồng Nai). Ảnh: ĐHLH.
Ban tổ chức trao Giải Ba cho đội Robocon Trường Đại học Lạc Hồng (TP. Đồng Nai). Ảnh: ĐHLH.

Điểm tôi đặc biệt quan tâm là Nghị định không nhìn tự chủ đơn thuần dưới góc độ “các trường tự lo”, mà thiết kế song song cơ chế tài chính của Nhà nước đối với những lĩnh vực chiến lược, khoa học cơ bản, công nghệ cao và những ngành đào tạo xã hội cần nhưng thị trường tuyển sinh chưa đủ sức hấp dẫn.

Đây là vấn đề rất quan trọng đối với các trường thuộc khối Nông – Lâm – Ngư nghiệp. Thực tế có những ngành khó tuyển sinh không đồng nghĩa với xã hội không cần. Ngược lại, có những ngành hiện tuyển không nhiều nhưng lại liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực, tài nguyên rừng, môi trường, biến đổi khí hậu, thú y, thủy sản, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển nông thôn.

Vì vậy, tôi cho rằng Nghị định đã đặt đúng một vấn đề lớn: không thể để hoàn toàn tín hiệu tuyển sinh ngắn hạn của thị trường quyết định sự tồn tại của những ngành đào tạo có ý nghĩa chiến lược dài hạn đối với quốc gia.

Ngành khó tuyển chưa chắc là ngành xã hội không cần

- Nghị định ra đời có thể giải quyết những vấn đề gì đang tồn tại trong đào tạo và quản lý hệ thống giáo dục?

- TS. Trần Đình Lý: Trước hết, Nghị định góp phần xử lý mối quan hệ giữa tự chủ – nguồn lực – trách nhiệm giải trình. Các trường được trao quyền nhiều hơn về chương trình, tuyển sinh, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính, khoa học công nghệ và hợp tác, nhưng đi cùng là yêu cầu công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực.

TS. Trần Đình Lý cho rằng, có thể vài năm nữa nhiều nghề sẽ biến mất, nhưng những người biết thích nghi sẽ luôn có chỗ đứng.
TS. Trần Đình Lý cho rằng, cơ chế hỗ trợ người học đối với những ngành đặc thù hoặc ngành cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội nhưng khó thu hút người học. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Thứ hai, Nghị định tạo cơ sở để Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo theo nhu cầu nhân lực, thay vì hỗ trợ dàn trải. Đây là cách tiếp cận phù hợp hơn với quản trị hiện đại: ngân sách đi cùng mục tiêu, sản phẩm đầu ra và nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ ba, và theo tôi rất đáng chú ý, là cơ chế hỗ trợ người học đối với những ngành đặc thù hoặc ngành cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội nhưng khó thu hút người học. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với khối Nông – Lâm.

Chúng ta đang đứng trước một nghịch lý: Việt Nam xác định nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sinh học, quản trị tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu là những lĩnh vực quan trọng, nhưng một số ngành đào tạo nền tảng phục vụ chính những lĩnh vực này lại ngày càng khó tuyển.

Nếu không có chính sách đủ mạnh, có thể xảy ra tình trạng khi đất nước thực sự cần nhân lực thì hệ thống đào tạo đã bị thu hẹp hoặc không còn đủ năng lực cung ứng.

Đặt hàng đào tạo theo nhu cầu nhân lực quốc gia

- Để thực hiện Nghị định, các trường đại học cần có kế hoạch và phương án đào tạo như thế nào?

- TS. Trần Đình Lý: Theo tôi, các trường không nên tiếp cận Nghị định theo hướng đơn thuần là “xin hỗ trợ ngân sách”, mà phải chứng minh được nhu cầu nhân lực, chất lượng đào tạo và hiệu quả xã hội của từng ngành.

Các sinh viên tốt nghiệp 2026 Đại học Nông Lâm TP.HCM.
Các sinh viên tốt nghiệp 2026 Đại học Nông Lâm TP.HCM. Ảnh: Nguyễn Tuyết.

Riêng đối với khối Nông – Lâm, tôi cho rằng các trường cần sớm phối hợp nghiên cứu và xây dựng một đề án chung về các ngành đào tạo cần thiết cho quốc gia nhưng đang khó thu hút người học, trên cơ sở dữ liệu chứ không chỉ dựa vào kiến nghị riêng của từng trường.

Có thể nghiên cứu các nhóm như lâm nghiệp và quản lý tài nguyên rừng; khoa học đất, nông hóa; bảo vệ thực vật; chăn nuôi; thủy sản; một số ngành khoa học cây trồng; quản lý tài nguyên – môi trường và những lĩnh vực nền tảng phục vụ nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng biến đổi khí hậu...

Tuy nhiên, danh mục cụ thể cần được khảo sát kỹ về nhu cầu nhân lực quốc gia, nhu cầu từng vùng, số lượng tuyển sinh nhiều năm, tỷ lệ việc làm và dự báo nhu cầu 5–10 năm tới. Không nên mặc định cứ ngành tuyển sinh khó là Nhà nước phải hỗ trợ.

Tôi nghĩ cần hình thành một cơ chế theo hướng: nhu cầu nhân lực quốc gia → xác định ngành thiết yếu → đặt hàng/hỗ trợ người học → trường cam kết chất lượng → doanh nghiệp/địa phương tham gia → đánh giá đầu ra.

Bản thân các trường cũng phải đổi mới chương trình. Một ngành khó tuyển không thể chỉ đổi tên để tuyển sinh tốt hơn mà phải đổi mới nội dung, công nghệ đào tạo và không gian nghề nghiệp.

Chẳng hạn, đào tạo nông nghiệp hôm nay phải tích hợp thêm công nghệ số, AI, dữ liệu, tự động hóa, kinh tế, quản trị, marketing và phát triển bền vững. Người học phải nhìn thấy tương lai nghề nghiệp và khả năng tạo ra giá trị, chứ không chỉ nhìn thấy một ngành học truyền thống.

- Nếu được triển khai đúng hướng, Nghị định sẽ góp phần như thế nào vào sự phát triển của hệ thống giáo dục?

-TS. Trần Đình Lý: Tôi kỳ vọng tác động lớn nhất là tạo ra một hệ thống giáo dục đại học tự chủ hơn nhưng không “thị trường hóa” một cách đơn giản; cạnh tranh hơn nhưng Nhà nước vẫn giữ vai trò kiến tạo và bảo đảm những lợi ích chiến lược dài hạn của quốc gia.

TS. Trần Đình Lý cùng sinh viên Trường Đại học Nông lâm TP.HCM tham dự Hội thảo Nông nghiệp thông minh
TS. Trần Đình Lý cùng sinh viên Trường Đại học Nông lâm TP.HCM tham dự Hội thảo Nông nghiệp thông minh do Tạp chí Một Thế Giới tổ chức. Ảnh: Hoàng Bắc.

Nếu triển khai tốt, nguồn lực ngân sách sẽ được chuyển từ hỗ trợ bình quân sang đầu tư có mục tiêu, đặt hàng theo nhu cầu và đánh giá bằng kết quả đầu ra. Quan trọng hơn, chúng ta có thể bảo vệ và phát triển được những ngành mà xã hội rất cần nhưng người học hiện chưa lựa chọn nhiều.

Với nông nghiệp, đây không chỉ là câu chuyện tuyển sinh của một vài trường đại học. Đó là câu chuyện chuẩn bị nguồn nhân lực cho an ninh lương thực, nông nghiệp xanh, kinh tế sinh học, tài nguyên – môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong 10–20 năm tới.

Vì vậy, tôi cho rằng các trường đại học trong khối Nông – Lâm nên sớm ngồi lại với nhau, cùng các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để xác định những ngành “khó tuyển hôm nay nhưng quốc gia rất cần ngày mai”, từ đó có căn cứ đề xuất Nhà nước đặt hàng hoặc hỗ trợ đào tạo theo tinh thần của Nghị định 334.

Không nên để một ngành đào tạo chiến lược biến mất chỉ vì ít người đăng ký ở một vài mùa tuyển sinh. Nhưng ngược lại, Nhà nước cũng không nên hỗ trợ một ngành chỉ vì ngành đó tuyển khó. Điểm quyết định phải là nhu cầu nhân lực và giá trị mà ngành đào tạo đó tạo ra cho tương lai đất nước.

Đó cũng chính là cách để chính sách hỗ trợ đi đúng đối tượng, ngân sách được sử dụng hiệu quả và tự chủ đại học thực sự gắn với trách nhiệm xã hội.

Riêng với Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, tuyển sinh năm 2026 có những tín hiệu rất tích cực. Nhà trường tuyển đủ 100% chỉ tiêu, nhiều ngành có điểm chuẩn ở mức cao. Điều đó cho thấy sức hút của các lĩnh vực đào tạo của Nhà trường cũng như niềm tin của người học và xã hội đối với NLU. Nhưng tuyển đủ là tín hiệu đáng mừng, không phải đích đến. Điều quan trọng hơn là chất lượng đầu vào tốt ấy phải được chuyển hóa thành chất lượng đào tạo, năng lực nghề nghiệp và giá trị mà người học có thể tạo ra sau khi tốt nghiệp. Đó cũng là kỳ vọng lớn nhất của tôi trong năm học mới.

Hoàng Bắc