Công nghệ quân sự

Tàu ngầm Maloyaroslavets mới của Nga đáng gờm ra sao?

Hoàng Vũ 29/08/2026 08:00

Nga vừa đặt ki tàu ngầm diesel-điện Maloyaroslavets thuộc Project (Đề án) 677 Lada. Nhỏ hơn lớp Kilo nhưng vẫn mang tên lửa Kalibr, Lada được Nga tập trung cải thiện độ ồn, sonar và tự động hóa.

Tuy nhiên, phía sau chiếc tàu mới là một chương trình kéo dài gần ba thập kỉ và bài toán động lực vẫn chưa được giải quyết trọn vẹn.

Ngày 27/8/2026, Nhà máy Admiralty Shipyards tại St. Petersburg tổ chức lễ đặt ki tàu ngầm diesel-điện Maloyaroslavets thuộc Project 677 Lada, do Cục thiết kế Rubin phát triển cho Hải quân Nga. Trợ lí Tổng thống kiêm Chủ tịch Ủy ban Hàng hải Nga Nikolay Patrushev và Tư lệnh Hải quân Alexander Moiseyev nằm trong số những quan chức dự lễ.

Ông Patrushev nhắc lại rằng Tổng thống Vladimir Putin đã phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quân Nga tới năm 2050 trong năm 2025, với hiện đại hóa lực lượng tàu ngầm nằm trong những nhiệm vụ ưu tiên. Điện Kremlin xác nhận chiến lược này được thông qua vào tháng 5/2025 và đặt ra định hướng dài hạn cho cơ cấu Hải quân Nga. Maloyaroslavets được đặt tên theo thành phố thuộc tỉnh Kaluga, nơi gắn với các chiến sự năm 1812 và 1941.

militarnyi.com-wp-content-uploads-2026-08-_maloyaroslavets.jpg
Lễ đặt ki tàu ngầm Maloyaroslavets ngày 27/8/2026. Ảnh: USC

Ngay trong các thông tin công bố về buổi lễ đã xuất hiện hai cách đánh số. Công ty Cổ phần Tổng công ty Đóng tàu Thống nhất Nga (USC) mô tả đây là chiếc tàu ngầm thứ sáu của Project 677, còn Tổng giám đốc Andrey Puchkov và một số nguồn ngành đóng tàu gọi Maloyaroslavets là chiếc thứ năm đóng nối tiếp. Kronstadt được coi là chiếc sản xuất nối tiếp đầu tiên sau tàu nguyên mẫu Sankt-Peterburg, tiếp theo là Velikiye Luki, Vologda, Yaroslavl và Maloyaroslavets.

Hải quân Nga rõ ràng chưa muốn dừng Lada ở đó. Tháng 12/2025, Moiseyev cho biết hợp đồng cho thêm hai tàu Project 677 đã được kí trong khuôn khổ đơn đặt hàng quốc phòng. USC chưa công bố thời điểm Maloyaroslavets hạ thủy hoặc bàn giao.

Gần ba thập kỉ để sửa một thiết kế đầy tham vọng

Project 677 ra đời từ thập niên 1990 nhằm tạo ra thế hệ tàu ngầm phi hạt nhân thay thế Project 877 Kilo. Rubin chuyển sang kiến trúc một thân, giảm lượng giãn nước, tăng tự động hóa và đặt mục tiêu cải thiện khả năng phát hiện mục tiêu cũng như độ bí mật so với thế hệ trước.

militarnyi.com-wp-content-uploads-2026-08-_lada.jpg
Tàu ngầm St. Petersburg thuộc Project 677 Lada của Hải quân Nga. Ảnh: Hải quân Nga

Những tham vọng đó khiến chiếc đầu lớp Sankt-Peterburg mất rất nhiều thời gian để trưởng thành. Tàu được đặt ki ngày 26/12/1997, hạ thủy tháng 10/2004 và được tiếp nhận năm 2010. Các cuộc thử nghiệm cuối thập niên 2000 phát hiện vấn đề ở hệ thống động lực chính. Đến năm 2011, Nga quyết định điều chỉnh thiết kế và nâng cấp hệ thống điều khiển, động lực điện cùng thiết bị hàng hải trên các tàu tiếp theo. Tháng 2/2024, Sankt-Peterburg được thông báo sẽ loại biên và tháo dỡ vì chi phí hiện đại hóa quá lớn.

Kronstadt cho thấy rõ hệ quả của những trục trặc đó. Tàu được đặt ki tháng 7/2005, dừng chế tạo năm 2009 và chỉ được nối lại ngày 9/7/2013 sau khi thiết kế sửa đổi được chấp thuận. Kronstadt hạ thủy năm 2018 và tới ngày 31/1/2024 mới chính thức vào biên chế, gần 19 năm sau khi đặt ki. Janes cũng mô tả quá trình phát triển Lada là kéo dài và chịu nhiều vấn đề kĩ thuật.

Velikiye Luki ban đầu được đặt ki năm 2006 với tên Sevastopol. Việc chế tạo cũng bị đình lại trước khi con tàu được tái đặt ki theo thiết kế sửa đổi năm 2015, hạ thủy cuối năm 2022 và bàn giao ngày 16/12/2025. Vologda và Yaroslavl được đặt ki cùng ngày 12/6/2022 và hiện vẫn đang trong quá trình chế tạo.

militarnyi.com-wp-content-uploads-2025-12-_velykye-luky-2.jpg
Tàu ngầm diesel-điện Velikie Luki của Nga. Ảnh: Infomach.ru

Rubin xác nhận các tàu đóng nối tiếp hiện nay sử dụng thiết kế đã được chỉnh sửa dựa trên kinh nghiệm khai thác Sankt-Peterburg. Hệ thống điều khiển kĩ thuật, động lực điện và tổ hợp hàng hải nằm trong số những phần được cải tiến. Vì vậy, Maloyaroslavets không đơn thuần là bản sao của chiếc Lada được vẽ ra vào cuối những năm 1990.

Nhỏ hơn Kilo nhưng vẫn mang 18 vũ khí

Theo Naval News, Lada dài khoảng 66,8 m, có lượng giãn nước khoảng 1.765 tấn khi nổi và 2.650 tấn khi lặn. Tốc độ tối đa dưới nước khoảng 21 hải lí/giờ (38,9km/h), thủy thủ đoàn 35 người. Các nguồn Nga công bố thời gian hoạt động độc lập khoảng 45 ngày và độ sâu lặn tới khoảng 300 m.

Quy mô nhỏ không đồng nghĩa Lada mang ít vũ khí. Tàu có sáu ống phóng 533 mm và khoang chứa khoảng 18 ngư lôi, tên lửa hoặc thủy lôi. Hãng thông tấn Nga TASS xác nhận Kalibr là hệ thống tên lửa chủ lực của lớp tàu này, trong khi Rubin cho biết Project 677 có thể phóng tên lửa vào mục tiêu trên biển và mục tiêu cố định trên đất liền.

badb892b-5fe9-4d42-b624-831b8879108d.png
Thông số kĩ thuật của tàu ngầm diesel-điện Maloyaroslavets thuộc Project (Đề án) 677 Lada. Ảnh: B.Đ

Phần tạo khác biệt với các thiết kế Nga cũ nằm nhiều hơn ở cảm biến và khả năng giảm dấu hiệu. Naval News cho biết Lada sử dụng lớp phủ tiêu âm Molniya, động cơ điện đồng bộ SED-1 với nam châm vĩnh cửu, sonar Lira và hệ thống quản lí chiến đấu tự động Litiy. Lira sử dụng mảng sonar phần mũi bố trí theo bề mặt thân tàu, một cách bố trí mới đối với tàu ngầm Nga khi Lada được phát triển.

Rubin nói tổ hợp sonar có mảng thu diện tích lớn và xử lí tín hiệu số nhằm tăng tầm phát hiện, còn thiết kế một thân cùng các biện pháp giảm trường vật lí giúp tăng độ bí mật. Đây vẫn chủ yếu là thông tin kĩ thuật và đánh giá từ phía nhà thiết kế Nga. Không có dữ liệu công khai độc lập đủ chi tiết để xác định Lada thực sự yên tĩnh hơn Kilo hoặc các tàu ngầm phương Tây bao nhiêu.

Với tàu diesel-điện, lợi thế về tiếng ồn thể hiện rõ nhất khi chạy bằng ắc quy ở tốc độ thấp. Trong trạng thái này, tàu không phải vận hành động cơ diesel và có thể giảm đáng kể tiếng ồn cơ khí. Đây là đặc tính có giá trị trong các vùng biển hẹp, ven bờ hoặc nơi môi trường âm thanh phức tạp, những khu vực vốn là một trong những môi trường tác chiến mà Project 677 được thiết kế hướng tới.

Hải quân Nga đưa ra đánh giá mạnh hơn nhiều. Trong cuộc phỏng vấn tháng 3/2026, Tư lệnh Hải quân Moiseyev nói Kronstadt và Velikiye Luki có độ ồn thấp, tự động hóa cao và vũ khí mạnh hơn thế hệ trước. Ông còn tuyên bố sự hiện diện và năng lực chiến đấu của chúng “gần như loại trừ” khả năng sử dụng lực lượng tàu mặt nước của đối phương. Đây là phát biểu của Tư lệnh Hải quân Nga, không phải kết quả đánh giá độc lập.

Trong thực tế, giá trị của một chiếc Lada nằm ở việc kết hợp được nhiều nhiệm vụ trên một thân tàu tương đối nhỏ. Sáu ống phóng cho phép nó săn tàu ngầm, tấn công tàu mặt nước, rải thủy lôi hoặc sử dụng Kalibr nhằm vào mục tiêu trên bờ. Sonar và khả năng giảm tiếng ồn lại phục vụ mục tiêu quan trọng nhất của tàu ngầm là phát hiện đối phương mà không để lộ vị trí của mình.

Mảnh ghép còn thiếu

Điểm Lada còn thua thiệt nằm ở khả năng bám trụ lâu dưới mặt nước. Các tàu Project 677 hiện vẫn sử dụng hệ thống diesel-điện truyền thống, trong khi Nga chưa đưa động lực không phụ thuộc không khí, hay AIP, vào trang bị thực tế.

AIP cho phép tàu ngầm thông thường ở dưới nước lâu hơn mà không phải thường xuyên nổi lên gần mặt biển và sử dụng ống thông hơi để chạy máy diesel. Đây là lợi thế quan trọng bởi mỗi lần sạc lại ắc quy theo cách này, nguy cơ bị radar, cảm biến quang điện hoặc phương tiện chống ngầm phát hiện đều tăng lên.

Tài liệu của Rubin hiện chỉ xem AIP là một phương án có thể tích hợp cho Project 677. Admiralty Shipyards cũng mô tả thiết kế này có khả năng tiếp nhận hệ thống sử dụng máy phát điện hóa. Đến tháng 3/2026, Tư lệnh Hải quân Nga Alexander Moiseyev vẫn nói phát triển tàu ngầm phi hạt nhân trang bị AIP là một hướng ưu tiên. Chưa có nguồn công khai nào xác nhận Kronstadt, Velikiye Luki hay Maloyaroslavets đã sở hữu công nghệ này.

Khi chạy bằng ắc quy, tàu ngầm diesel-điện có thể rất yên tĩnh. Vấn đề xuất hiện khi lượng điện dự trữ giảm xuống. Tàu phải lên gần mặt nước, dựng snorkel để vận hành động cơ diesel và nạp lại pin. AIP giúp kéo dài khoảng thời gian giữa những lần phải làm như vậy, qua đó giảm nguy cơ bị phát hiện.

Thiếu AIP vì thế vẫn là một hạn chế của Lada, nhưng không đồng nghĩa lớp tàu này mất đi giá trị tác chiến. So với Kilo, Lada nhỏ hơn, cần ít thủy thủ hơn nhưng vẫn mang được lượng vũ khí đáng kể. Nga cũng tập trung nâng cấp sonar, tự động hóa và các biện pháp giảm tiếng ồn, những yếu tố đặc biệt quan trọng với một tàu ngầm hoạt động ở vùng biển gần bờ.

Với Maloyaroslavets, vẫn còn quá sớm để biết những cải tiến này hiệu quả đến đâu. Tàu mới chỉ được đặt ki, USC chưa công bố thời điểm hạ thủy và cấu hình cuối cùng vẫn chưa được tiết lộ. Sau gần ba thập kỉ phát triển đầy trắc trở, Nga đã đưa Lada tới giai đoạn đóng nối tiếp. Nhưng việc lớp tàu này có thực sự đạt được năng lực như Hải quân Nga tuyên bố hay không vẫn phải chờ những chiếc mới chứng minh trên biển.

Hoàng Vũ