Vì sao Mỹ mua pháo tự hành của Hàn Quốc?
Lục quân Mỹ đã chọn tập đoàn Hàn Quốc Hanwha Aerospace để chế tạo 6 nguyên mẫu pháo tự hành bánh lốp K9MH, kèm quyền chọn mua thêm 12 pháo. Nếu được sản xuất đại trà, lực lượng này sẽ đặt hàng hơn 500 pháo, trị giá hơn 7 tỉ USD.
Bề ngoài, đây chỉ là một thương vụ vũ khí bình thường. Nhưng nhìn vào câu chuyện Mỹ có hơn 20 năm thất bại trong phát triển pháo tự hành mới, quyết định là hệ quả của một chuỗi sai lầm chiến lược. Nguyên nhân không ở việc công nghiệp quốc phòng Mỹ thiếu năng lực, mà ở việc quân đội liên tục đặt ra những bài toán phi thực tế.

Hai thập niên, ba giấc mộng nhảy vọt
Vấn đề của Lục quân Mỹ chưa bao giờ là thiếu tiền hay thiếu quyết tâm hiện đại hóa pháo binh. Ngược lại, đây là lực lượng đã 3 lần dồn lực vào một chương trình pháo tự hành hoàn toàn mới. Tuy nhiên, cả 3 lần đều phải dừng giữa chừng. Mẫu M109 Paladin từ thập niên 1960 vẫn là xương sống hỏa lực mặt đất của lực lượng này cho đến nay.
Chương trình đầu tiên là XM2001 Crusader, khởi động từ năm 1994 với tham vọng chế tạo một khẩu pháo tự hành 155mm dùng liều phóng lỏng và hệ thống nạp đạn tự động. Đến năm 2002, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld đã hủy bỏ chương trình.
Lý do được đưa ra là Crusader nặng khoảng 40 tấn, lên tới 110 tấn nếu tính cả xe tiếp đạn đi kèm. Khối lượng ấy vượt quá khả năng chở của mọi máy bay vận tải của Không quân Mỹ khi đó. Donald Rumsfeld coi đây là di sản của tư duy kiểu Chiến tranh Lạnh, không phù hợp với học thuyết nhanh và toàn cầu hậu sự kiện 11/9.
7 năm sau, phiên bản kế thừa mang tên “Pháo Ngoài tầm nhìn” (NLOS-C), xương sống hỏa lực của cả một gia phả xe chiến đấu mang tên Hệ thống Chiến đấu Tương lai (FCS) cũng chịu chung số phận. Toàn bộ chương trình tiêu tốn hơn 18 tỉ USD trước khi bị hủy bỏ vào năm 2009. Bộ trưởng Quốc phòng khi đó là Robert Gates quyết định chuyển trọng tâm sang chiến trường Iraq và Afghanistan thay vì chiến tranh quy ước với đối thủ ngang hàng.
Lần thứ ba là XM1299, thuộc chương trình Pháo tầm xa mở rộng (Extended Range Cannon Artillery – ERCA), khởi động năm 2018 với mục tiêu đưa nòng pháo dài nhất có thể lên khung gầm pháo Paladin sẵn có. Tham vọng là đạt tầm bắn vượt 100km, xa hơn mọi loại pháo cùng cỡ trên thế giới.

Nhưng tới tháng 3/2024, Lục quân Mỹ "khai tử" chương trình. Theo ông Doug Bush, quan chức phụ trách mua sắm của Lục quân, nguyên nhân là nòng pháo mòn quá mức chỉ sau một số ít phát bắn. Nói cách khác, việc “nhồi” quá mức để tăng tầm bắn lại là thứ khiến khẩu pháo không thể sống sót qua một chu trình sử dụng bình thường.
Ba chương trình cùng chung một kết cục thất bại. Mỗi lần, Lục quân Mỹ đều “vấp” vì cố nhảy một bước quá xa so với công nghệ đã được kiểm chứng.
“Cưỡi ngựa xem hoa” ngay cả khi hạ chuẩn
Những chương trình pháo hạng nặng nói trên chưa mô tả hết được bức tranh “ảm đạm” của pháo binh Mỹ. Ngay cả với yêu cầu đơn giản là gắn pháo lên khung gầm xe tải, Lục quân Mỹ vẫn không thể đưa ra quyết định mua sắm trong suốt hơn một thập niên.
Từ những năm 2010, tập đoàn Mandus đã phát triển công nghệ "giảm giật mềm", cho phép cụm pháo lùi về phía trước khi khai hỏa để triệt tiêu phần lớn lực giật. Nhờ đó, có thể gắn pháo cỡ nòng lớn lên những khung gầm xe nhẹ hơn nhiều so với thông thường.
Công nghệ này sinh ra pháo 105mm Hawkeye gắn trên xe Humvee và pháo 155mm Brutus gắn trên xe tải FMTV 3 cầu. Brutus đã bắn thử trước sự chứng kiến của Lục quân Mỹ vào tháng 10/2018. Cả hai hệ thống sau đó liên tục xuất hiện trong các đợt trình diễn của quân đội trong suốt nhiều năm.

Năm 2020-2021, Lục quân Mỹ thậm chí còn tổ chức hẳn một cuộc "đấu súng" để chọn ra pháo tự hành bánh lốp mới, quy tụ Brutus của Mỹ và 4 đối thủ nước ngoài, gồm Archer của Thụy Điển, ATMOS-2000 của Israel, CAESAR của Pháp và NORA B-52 của Serbia. Tuy nhiên, cuộc thi âm thầm khép lại mà không có người thắng cuộc.
Số phận của Hawkeye còn trớ trêu hơn. Sau hơn một thập niên trình diễn cho quân đội Mỹ xem, khách hàng đầu tiên của hệ thống này là Bộ Quốc phòng Kosovo.
Điều này cho thấy nút thắt không nằm ở năng lực công nghệ của công nghiệp quốc phòng Mỹ. Các công ty Mỹ vẫn thừa sức chế tạo ra những hệ thống hoạt động tốt. Nút thắt nằm ở chính bộ máy mua sắm của Lục quân Mỹ. Hết lần này đến lần khác đặt yêu cầu phát triển, rồi bỏ ngỏ không ra quyết định cuối cùng, khiến ngay cả những giải pháp rẻ và đơn giản cũng rơi vào tình trạng lửng lơ suốt nhiều năm.
Trong lúc Mỹ loay hoay, Hàn Quốc kiên trì từng bước nhỏ
Hanwha của Hàn Quốc lại chọn một con đường hoàn toàn khác: phát triển tiệm tiến và sản xuất liên tục không ngừng nghỉ.
K9 Thunder, nòng cốt của pháo K9MH mà Mỹ vừa chọn, được Hàn Quốc biên chế từ năm 1999. Hơn 25 năm sau đó, Hanwha không ngừng cải tiến từng phần của thiết kế gốc, đồng thời duy trì dây chuyền sản xuất để xuất khẩu.
Đến nay, hơn 1.700 pháo K9 đã được chế tạo. Giá mỗi hệ thống chỉ vào khoảng 3,5-4 triệu USD, rẻ hơn đáng kể so với 7-8 triệu USD của các đối thủ Mỹ và Đức. Hanwha cũng rất hào phóng trong chuyển giao công nghệ và hợp tác sản xuất, điển hình là với Thổ Nhĩ Kỳ hay Ấn Độ.
Chính sự tích lũy kinh nghiệm sản xuất này giúp Hanwha phát triển nhanh biến thể K9 bánh lốp, để đáp ứng yêu cầu cơ động cao mà Bộ trưởng Lục quân Mỹ Dan Driscoll đưa ra. Chủ lực M109 Paladin của lực lượng hiện được cho là không đủ nhanh nhẹn, trong bối cảnh yếu tố sống còn hiện nay của pháo binh là tính cơ động.
Cái giá của hai thập niên trì hoãn
Nhìn lại toàn bộ chuỗi sự kiện, có thể thấy vấn đề của Lục quân Mỹ chưa bao giờ nằm ở việc "không làm được" pháo tự hành. Vấn đề nằm ở chỗ Mỹ chỉ còn khả năng thực thi những bước cải tiến nhỏ trên nền tảng có sẵn, đánh mất tính quyết đoán khi phát triển một nền tảng mới, dù hạng nặng như Crusader hay đơn giản như Brutus.
Hệ quả là sau 24 năm và hàng loạt chương trình thất bại, Lục quân Mỹ giờ đây đứng trước ngã ba đường. Một bên là tiếp tục chờ đợi một chương trình nội địa có thể không bao giờ về đích. Bên kia là mua ngay một mẫu đã được kiểm chứng qua sản xuất hàng loạt. Bài học từ Ukraine đã khiến lựa chọn thứ hai trở nên hợp lý hơn trong thời điểm hiện tại.
